- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 293/2019/HS-ST Ngày: 24/12/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Lanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuân Phương
Ông Vũ Mạnh Huề
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Việt Hùng - Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 299/2019/TLST-HS ngày 02/12/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 298/2019/QĐXX-HS ngày 12/12/2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D, sinh năm 19xx – Hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã N, huyện Th, tỉnh Hải Dương. Nơi ở: Không xác định. Nghề nghiệp: Không. Văn hóa: 12/12. Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Phạm Thị H. Tiền án, tiền sự: Không. Bắt quả tang ngày 14/10/2019. Bị tạm giam tại Trại giam số 1, Công an Thành phố Hà Nội.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16h00 ngày 14/10/2019, tại khu vực trước cửa số nhà xx, ngõ xxx Phố Vọng, phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội, Tổ công tác công an phường Đồng Tâm trong khi làm nhiệm vụ phát hiện Vũ Văn D có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra, D tự giác giao nộp 01 ống nhựa màu đen có chiều dài 3cm bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, đang cầm trong lòng bàn tay phải. D khai nhận là ma tuý đá vừa mua của một nam thanh niên không quen biết tại khu vực đầu ngõ xxx Phố Vọng, mục đích mua để sử dụng do bản thân nghiện ma tuý; chưa kịp sử dụng thì bị kiểm tra bắt giữ. Tổ công tác đã đưa D về trụ sở Công an phường để làm rõ.
Tang vật thu giữ: 01 ống nhựa màu đen có chiều dài 3cm bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng. Ngoài ra, không thu giữ gì khác.
Kết luận giám định số 6586/KLGĐ-PC09 ngày 23/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 01 ống nhựa màu đen thu giữ của D là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,236 gam.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Cơ quan Công an đã tiến hành dẫn giải, D xác định được địa điểm mua ma túy nhưng không xác định được nam thanh niên đã bán ma túy cho D nên không có căn cứ xác minh, xử lý.
Tại Cáo trạng số 316/CT-VKS-HBT ngày 20/11/2019, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố Nguyễn Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận hành vi tàng trữ ma túy đúng như nội dung Cáo trạng đã thể hiện, giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền; tịch thu tiêu hủy tang vật là 0,236 gam Methamphetamine.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, của Điều tra viên, của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về định tội và hình phạt:
Xét lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản dẫn giải, kết luận giám định, và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 16h00 ngày 14/10/2019, tại khu vực nhà xx, ngõ xxx Phố Vọng, phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Nguyễn Văn D đã có hành vi tàng trữ 0,236 gam ma tuý loại Methamphetamine, mục đích tàng trữ ma tuý để sử dụng.
Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình nhưng cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý độc quyền đối với các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, hủy hoại sức khỏe, nhân cách của người trực tiếp sử dụng, là nguyên nhân lây lan căn bệnh HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác; bị Nhà nước nghiêm cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt. Hành vi của bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng kết luận về hành vi phạm tội và truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi bị bắt quả tang, cũng như quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hoàn cảnh gia đình, bị cáo có ông ngoại là liệt sỹ Phạm Văn X (hy sinh ngày xx/xx/19xx); bố đẻ là ông Nguyễn Văn Đ là bệnh binh, được Nhà nước tặng huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba, huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng hai, Huân chương Chiến công Hạng ba, được xem xét là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[3] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ vật chứng là 0,236 gam Methamphetamine đựng trong 01 ống nhựa màu đen có chiều dài 3cm thu giữ của bị cáo.
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với người đã bán ma tuý cho bị cáo, bị cáo không biết nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Nguyễn Văn D 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang là ngày 14/10/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ vật chứng là 0,236 gam Methamphetamine đựng trong 01 ống nhựa màu đen có chiều dài 3cm thu giữ của bị cáo. Tang vật đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 28/11/2019 (93/20) giữa Công an quận Hai Bà Trưng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Hai Bà Trưng; - Công an quận Hai Bà Trưng; - Trại Tạm giam Công an TP. Hà Nội; - Thi hành án quận Hai Bà Trưng; - UBND xã N, huyện Th, tỉnh Hải Dương ; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mỹ Lanh THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |