- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 293/2019/DS-ST Ngày: 30/5/2019 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Thiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Quý;
2. Ông Chu Mạnh Tường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang – Thư ký Tòa án nhân dân quận
Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Ngô
Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 480/2018/TLST-
DS ngày 06/12/2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 95/2019/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn
phiên tòa số: 75/2019/QĐST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng A
Trụ sở: Tầng 2-Tòa nhà R, số 9 đường Đ, Phường V, Quận F, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lương Thị Thanh T, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Lầu 5 – Tòa nhà số 144 đường C, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh,
là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
(theo văn bản ủy quyền số: 676/UQTA-VH.18 ngày 16/11/2018 của Công ty tài
chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng A)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Anh T, sinh năm: 1988 – Vắng mặt.
Địa chỉ: 1062/7 Đường L, tổ 7, khu phố F, phường R, quận T, Thành phố Hồ Chí
Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
(1) Nội dung nguyên đơn khởi kiện: Ngày 13/10/2016, ông Nguyễn Hoàng Anh T
có ký hợp đồng tín dụng số 20161021-500000-3947 với Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng A để vay số tiền 18.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 3,75%/tháng, mục đích vay là để tiêu dùng cá nhân, thời gian vay là 18 tháng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng ông Nguyễn Hoàng Anh T có trách nhiệm trả tiền gốc và lãi theo hình thức góp hàng tháng, trong 17 tháng đầu mỗi tháng ông T góp 1.394.000 đồng, tháng thứ 18 (tháng cuối cùng) ông T trả 1.794.000 đồng là thanh lý hợp đồng, như vậy tổng số tiền cả gốc và lãi mà ông T phải trả cho nguyên đơn là 25.492.000 đồng, thỏa thuận bắt đầu từ ngày 01/12/2016. Thực hiện hợp đồng ông T đã trả góp được 1.400.000 đồng, từ ngày 01/01/2017 ngưng cho đến nay không thanh toán bất cứ khoản nào, mặc dù phía nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nhở yêu cầu trả nợ. Do vậy, nguyên đơn khởi kiện buộc ông Nguyễn Hoàng Anh T phải trả một lần toàn bộ số tiền còn lại là 24.092.000 đồng (trong đó gồm nợ gốc là 17.506.000 đồng và nợ lãi là 6.586.000 đồng). Không yêu cầu tính lãi và trả lãi do vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định và đề nghị kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu ông T không trả nợ thì buộc ông T trả tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
(2) Bị đơn ông Nguyễn Hoàng Anh T sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án
đã đến trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức viết bản tự khai thừa nhận toàn bộ nội dung nguyên đơn khởi kiện. Tuy nhiên, các lần triệu tập tiếp theo ông T không hợp tác, không đến Tòa làm việc theo giấy triệu tập, thông báo. Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng cư trú và xác định ông T vẫn còn cư ngụ tại địa phương. Mặc dù, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác nhưng ông Nguyễn Hoàng Anh T vẫn cố tình vắng mặt không đến tòa để làm việc, và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất.
(3) Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Lương Thị
Thanh Tâm có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu và ý kiến như trên. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng Anh T tiếp tục vắng mặt đến lần thứ hai mà không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
(4) Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
phát biểu ý kiến: Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của pháp luật. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề nghị Tòa án chấp nhận. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng Anh T vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn. Về nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại
phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Giữa Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng A với
ông Nguyễn Hoàng Anh T phát sinh quan hệ tranh chấp từ hợp đồng vay tài sản thuộc
trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị
đơn ông Nguyễn Hoàng Anh T đang cư trú trên địa bàn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ
Chí Minh, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận
Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông
Nguyễn Hoàng Anh T vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập
hợp lệ, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, Hội đồng xét xử áp
dụng khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử
vắng mặt đại diện hợp pháp của nguyên đơn và xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20161021-500000-3947 ký ngày
13/10/2016 (gọi tắt là Hợp đồng) giữa ông Nguyễn Hoàng Anh T và Công ty tài chính
trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng A là hoàn toàn tự nguyên, được lập
bằng văn bản có chữ ký của các bên, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại
các điều 91, 96 và 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, nên đã phát sinh quyền
và nghĩa vụ pháp lý ràng buộc các bên phải thực hiện.
Căn cứ vào hợp đồng và chứng từ giải ngân về khoản vay do nguyên đơn cung cấp
và sự thừa nhận tại bản tự khai ngày 29/3/2019 của bị đơn, có cơ sở xác định ông
Nguyễn Hoàng Anh T có vay của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Ngân hàng A số tiền 18.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 3,75%/tháng, mục đích vay
là để tiêu dùng cá nhân, thời gian vay là 18 tháng. Hai bên đã thỏa thuận ông Nguyễn
Hoàng Anh T có trách nhiệm trả tiền gốc và lãi theo hình thức góp hàng tháng, trong 17
tháng đầu mỗi tháng ông T góp 1.394.000 đồng, tháng thứ 18 (tháng cuối cùng) ông T
trả 1.794.000 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi mà ông T thỏa thuận phải trả là 25.492.000
đồng. Nhận thấy, những thỏa thuận trên giữa hai bên là phù hợp với quy định tại khoản
2 Điều 91 Luật các tổ chức Tín Dụng năm 2010.
Căn cứ vào lịch sử thanh toán và sự thừa nhận của nguyên đơn và của bị đơn xác
định ông Nguyễn Hoàng Anh T đã thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu
hạn một thành viên Ngân hàng A tổng số tiền 1.400.000 đồng, còn nợ lại số tiền
24.092.000 đồng (trong đó gồm nợ gốc là 17.506.000 đồng và nợ lãi là 6.586.000
đồng). Xét thấy, thời gian thỏa thuận về việc vay và trả nợ giữa hai bên đã hết, nhưng bị
đơn ông Nguyễn Hoàng Anh T vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm nghiêm
trọng nghĩa vụ bên vay, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của bên cho vay.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi
kiện trên của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp nên được chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn
ông Nguyễn Hoàng Anh T phải chịu án phí dân sự sở thẩm. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 186, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 273, Điều 280, Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 96, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 357, 463, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Buộc ông Nguyễn Hoàng Anh T có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty tài chính
trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng A số tiền 24.092.000 đồng (hai mươi bốn triệu không trăm chín mươi hai nghìn đồng), trong đó gồm tiền nợ gốc còn lại là 17.506.000 đồng và tiền nợ lãi là 6.586.000 đồng.
- Kể từ ngày Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng A
có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn Hoàng Anh T không thực hiện hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán, thì hàng tháng ông T còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm 1.204.600 đồng (một triệu hai trăm lẻ bốn
nghìn sáu trăm đồng), buộc ông Nguyễn Hoàng Anh T phải nộp theo quy định.
Trả lại cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng A số
tiền tạm ứng án phí 602.300 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2018/0022948 ngày 04/12/2018 của Chi cục thi hành an dân sự quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Ngân hàng A và ông Nguyễn Hoàng Anh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự,
đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức; - Thi hành án dân sự quận Thủ Đức; - Các đương sự; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký tên và đóng dấu Cao Văn Thiên |