- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Anh T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Anh T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 292/2018/HS-ST Ngày: 09-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My
Các Hộ i thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Long
Ông Đỗ Xuân Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Nguyễn Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 282/2018/TLST - HS, ngày 12 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án xét xử số 293/2018/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Anh T - Sinh ngày 27 tháng 9 năm 1990, tại: Tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Thôn B, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn C và bà: Nguyễn Thị N; Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24 tháng 7 năm 2018 – Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà H’ D Niê – Sinh năm: 1973 (Vắng mặt)
Cư trú tại: Đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Anh T là người nghiện chất ma túy, không có việc làm ổn định nên nảy sinh ý định mua ma túy bán lại cho người nghiện kiếm lời. Ngày 22/7/2018, T một mình đi xe khách đến thành phố Hồ Chí Minh rồi đi vào một quán Bar ở quận T và mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) số lượng ma túy gồm 22 viên ma túy lắc với số tiền 4.400.000đồng và 10 chấm khay với số tiền 8.000.000đồng rồi mang về cất giấu tại phòng trọ đường H, phường T, thành phố B. Vào khoảng 13 giờ ngày 24/7/2018 có O là người quen biết ngoài xã hội (không rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại di động hỏi mua ma túy dạng thuốc lắc số lượng 10 viên với giá 250.000đ/1 viên. Khoảng 10 phút sau, O điều khiển xe mô tô đến phòng trọ lấy 10 viên ma túy dạng lắc và đưa cho T số tiền 2.500.000đồng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi T đang ở phòng trọ thì Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành kiểm tra và phát hiện bắt quả tang Bùi Anh T về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra thu giữ trong túi quần bên phải T đang mặc: 01 gói nylon bên trong có 10 viên nén hình tròn, một đầu màu xanh và 10 gói nylon bên trong đều chưa chất rắn màu trắng đã niêm phong theo quy định của pháp luật
Tại bản kết luận giám định số 667/GĐMT-PC54 ngày 31/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận:
- 10 viên nén hình tròn có một đầu nhọn màu xanh đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 3,9313gam, loại: MDMA;
- Chất rắn màu trắng đựng trong 10 gói nylon được niêm phong gửi giám định, là ma túy, có tổng khối lượng 4,6760gam, loại Ketamine.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của bị cáo đúng như nội dung trên, bị cáo đồng ý với kết luận giám định và không có ý kiến gì.
Bản cáo trạng số : 289/CT-VKS ngày 08/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thà nh phố Buôn Ma Thuột , tỉnh Đăk Lăk đã truy tố bị cáo Bùi Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột sau khi phân tích đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Anh T và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản cáo trạng số 289/CT-VKS ngày 08/10/2018 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Anh T từ 07 (Bảy) năm tù đến 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy đối với 3,6600gam ma tuý loại MDMA và 4,5714gam ma túy loại Ketamine còn lại sau giám định thu giữ của bị cáo T, được niêm phong trong gói số 667/GĐMT-PC54 ngày 31/7/2018 của Phòng KTHS công an tỉnh Đắk Lắk là tang vật của vụ án.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen gắn sim số 0931620259 và số tiền 2.500.000đồng thu giữ của Bùi Anh T có liên quan đến hành vi phạm tội.
Tuyên trả lại cho bị cáo T số tiền 1.000.000đồng là tài sản riêng của Bùi Anh T không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, hành vi của bị cáo Bùi Anh T vào ngày 22 tháng 7 năm 2018 bị cáo đã đi đến một quán bar ở quận T, thành phố Hồ Chí Minh mua của đối tượng nam giới (không rõ nhân thân lai lịch) gồm; 22 viên ma túy lắc với số tiền 4.400.000đồng và 10 chấm khay với số tiền 8.000.000đồng rồi mang về cất giấu tại phòng trọ đường H, phường T, thành phố B để bán lại cho các con nghiện. Đến chiều ngày 24/7/2018 bị cáo đã bán cho O là người quen biết ngoài xã hội (không rõ nhân thân, lai lịch) 2.500.000đồng được 10 viên thuốc lắc. Sau đó thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành kiểm tra và phát hiện bắt quả tang là phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có cơ sở pháp lý và phù hợp với quy định của pháp luật.
Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
p) Có từ 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này.
Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là rất nguy hiểm và gây tác hại xấu nhiều mặt cho xã hội và ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố B. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước đối với các loại dược chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rằng các loại dược chất ma túy thuộc quyền quản lý của Nhà nước, thông qua các cơ quan chức năng có thẩm quyền và phải tuân theo những trình tự thủ tục nghiêm ngặt, mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt trái phép chất ma túy đều bị trừng trị nghiêm khắc. Đồng thời bị cáo cũng biết được rằng chất ma túy là loại chất gây nghiện nặng làm hủy hoại đến sức khỏe của con người và cũng là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội. Chỉ vì tham lam tư lợi nên bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho nên đối với bị cáo cần buộc cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, nhằm phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này trong tình hình xã hội hiện nay.
Về tình tiết tăng nặng, bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ hình phạt: Sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên được áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính cần phạt bị cáo một khoản tiền nhất định sung vào ngân sách Nhà nước nhưng xét thấy bị cáo là một con nghiện có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Bùi Anh T, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.
Đối với nguồn ma túy bị cáo Bùi Anh T khai mua của đối tượng nam giới (không rõ nhân thân, lai lịch) tại một quán Bar ở quận T, thành phố Hồ Chí Minh và đối tượng tên O đã mua ma túy của Bùi Anh T nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột chưa xác minh được nhân thân lai lịch của các đối tượng trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã tách hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các đối tượng trên ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp pháp luật.
Trong vụ án còn có bà H’ D là người đã cho Bùi Anh T thuê phòng trọ tại địa chỉ số H, đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. Nhưng bà H’ D không biết bị cáo T sử dụng phòng trọ làm nơi giao dịch cất giấu, mua bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý đối với bà H’ D là phù hợp
Về vật chứng:
- Đối với số tiền 2.500.000đồng do bị cáo Bùi Anh T phạm tội mà có và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen gắn sim số 0931620259 bị cáo T sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với đối với 3,6600 gam ma tuý loại MDMA và 4,5714 gam ma túy loại Ketamine còn lại sau giám định thu giữ của bị cáo T, được niêm phong trong gói số 667/GĐMT-PC54 ngày 31/7/2018 của Phòng KTHS công an tỉnh Đắk Lắk là tang vật của vụ án nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 1.000.000đ là tài sản riêng của Bùi Anh T không liên quan đến hành vi phạm tội nên tuyên trả lại cho bị cáo T nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Xét quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên đã thi hành các quyết định tố tụng cũng như lấy lời khai của bị cáo và các đương sự khác liên quan trong vụ án là đảm bảo đúng theo trình tự quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử kiểm sát viên đã thực hiện việc kiểm sát hoạt động tố tụng đúng theo quy định của pháp luật nên bị cáo không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Anh T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”
Xử phạt bị cáo: Bùi Anh T 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 24 tháng 7 năm 2018.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b khoản 2 , khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu, tiêu hủy 3,6600gam ma tuý loại MDMA và 4,5714gam ma túy loại Ketamine còn lại sau giám định được niêm phong trong gói số 667/GĐMT-PC54 ngày 31/7/2018 của Phòng KTHS công an tỉnh Đắk Lắk.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 2.500.000đồng của bị cáo Bùi Anh T do phạm tội mà có và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen gắn sim số 0931620259.
Tuyên trả cho bị cáo Bùi Anh T số tiền 1.000.000đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
(Vật chứng có đặc điểm, số lượng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 09 tháng 10 năm 2018 giữa Công an thành phố Buôn Ma Thuột và Chi cục thi hành án dân sự thành phố B).
Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Bùi Anh T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận : - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND tỉnh,VKSND TP.BMT; - Công an TP.BMT; - CCTHADS TP.B; - THA phạt tù (để thi hành); - Sở tư pháp tỉnh ĐăkLăk; - Bị cáo; Các đương sự - Lưu: HS, VP . | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị My My |