vanban.org

Bản án 292/2018/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 10/05/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/05/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Phạt tiền bị cáo Hoàng Thế B 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng. [2] Bị cáo Hoàng Thế B phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thế B - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? [1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 292/2018/HS-PT
Ngày: 10-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Anh Dũng;

Các Thẩm phán:

Ông Võ Hồng Sơn;

Ông Mai Anh Tài.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Đào Trọng Thuyết, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 225/2018/TLPT-HS ngày 15 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo Hoàng Thế B do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2018/HSST ngày 29 tháng 01 năm 2018 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

* Bị cáo có kháng cáo:

Hoàng Thế B, sinh năm 1982; nơi ĐKHKTT: Thôn R, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang; trú tại: Thôn Đ, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 11/12; con ông Hoàng Văn Đ và bà Nguyễn Thị C (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị H và 02 con (con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: Ngày 19/7/2012, TAND tỉnh Bắc Giang xử phúc thẩm phạt 03 năm tù về tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”, bị cáo B chưa thi hành án phạt tù vì lý do “Người bị kết án là lao động duy nhất”; nhân thân: Ngày 27/10/2016 bị TAND thành phố Hà Nội xử phạt 20 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/12/2013 đến 30/6/2015; đang chấp hành hình phạt tù 23 năm (tính từ 30/6/2015 nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2011 đến ngày 29/11/2011) tại Trại giam số 6, Tổng cục VIII, Bộ Công an thuộc huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; từ ngày 07/9/2017 cho đến nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa do Tòa án chỉ định cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thế U

- Văn phòng luật sư T thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 29/11/2013, Hoàng Thế B đi xe ô tô có BKS 99A-A xuống chợ Móng Cái, Quảng Ninh để mua ma túy tổng hợp. Đến trưa, B gặp một người Trung Quốc tên là S cho biết: “Có nguồn ma túy tổng hợp muốn bán và nhờ B tìm người mua giới thiệu”. B nói với S: “Em muốn mua”. S điện thoại cho 01 thanh niên (B không quen biết người này) đến đưa cho S một túi nilon màu đen rồi bỏ đi. S đưa cho B chiếc túi nilon màu đen vừa nhận được và nói: “Trong này có 2kg ma túy tổng hợp, mang về mà bán”. B đưa cho S số tiền 110.000.000đ rồi mang túi ma túy vừa mua được để vào trong xe ô tô BKS 99A-A. B chia số ma túy mua được thành 02 túi nilon màu trắng rồi bọc lại và lấy băng dính quấn lại và cho lần lượt vào 02 túi nilon màu đen rồi cất giấu trong thùng gạch ốp lát. B gửi thùng gạch này cho một ô tô khách chạy tuyến Quảng Ninh - Hà Nội, cho người phụ xe số điện thoại của H và dặn “khi nào đến gầm cầu Bồ Sơn, thành phố Bắc Ninh thì anh điện cho người ta ra nhận thùng gạch em gửi”. Sau đó, B lái xe ô tô BKS 99A1-A bám theo sau xe ô tô khách. Trên đường đi, B điện cho Nguyễn Văn H và B: “Tối nay ra khu vực gầm cầu vượt Bồ Sơn, thành phố Bắc Ninh có người điện thoại thì nhận hộ anh thùng hàng”, H đồng ý. Khi ô tô khách chạy đến thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh dừng trả khách, B lên xe ô tô khách. Khi đến gầm cầu vượt Bồ Sơn, người phụ xe đưa thùng gạch cho H, đồng thời B cũng xuống xe luôn. B lấy chìa khóa rạch bìa thùng gạch và lấy ma túy ra nói với H: “Đây là mua túy tổng hợp, em cầm lấy đem về thuê phòng ở nhà nghỉ Hoa Sen để cất giấu, khi nào tìm được khách mua thì bán lấy tiền và anh sẽ cho em một ít tiền”, H đồng ý. H đem ma túy đến thuê phòng 209 nhà nghỉ Hoa Sen ở phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh và cất giấu số ma túy ở trên trần nhà vệ sinh của phòng nghỉ. Sau đó H khóa cửa phòng và cầm chìa khóa đi gặp và đưa cho B. Chiều ngày 01/12/2013, B nhận được điện thoại của một người tên N (B không biết địa chỉ) hỏi “Mày có ma túy tổng hợp bán không?”. B trả lời: “Có ma túy tổng hợp bán”. Thấy vậy, N hẹn ra ngã 6 Đại Phúc nói chuyện. Tại đây, N nói với B: “Ngày mai tao sẽ điện thoại gặp mày xem cụ thể ma túy như thế nào rồi mua luôn”. Đến khoảng 23h ngày 02/12/2013, B nhận được điện thoại của N nói muốn mua ma túy. B gọi điện cho H biết có khách muốn mua và dặn H đi mua một chiếc cân và chờ B xuống đón để đi bán ma túy. B qua đón H, trên đường đi B nói với H là: “Tao đưa mày về nhà nghỉ Hoa Sen chờ ở đó, khi nào tao điện thoại B mang ma túy tổng hợp giao cho ai thì cứ thực hiện, còn tao sẽ nhận tiền của người ta”. B chở H đến nhà nghỉ Hoa Sen, còn B đi xe ô tô ra khu vực ngã 6 gặp N. B gặp N và một thanh niên không quen biết giới thiệu tên là C đi trên chiếc ô tô loại 7 chỗ ngồi. Lúc này N nói với B là “Ma túy tổng hợp đâu, tao mua số lượng 1kg”. B đồng ý. B, N và C thỏa thuận xem ma túy cụ thể như thế nào rồi nói chuyện giá mua bán và thanh toán. Sau khi giao dịch xong với người mua, B điện thoại cho H bảo: “Em cân lấy 1kg ma túy tổng hợp rồi đem ra khu vực cột đồng hồ thành phố Bắc Ninh sẽ có người điện thoại và gặp em thì em giao ma túy cho họ”. H lấy túi ma túy xuống bóc 01 gói ma túy ra đổ vào chiếc nilon màu đen hai lớp rồi dùng cân đủ 1kg. Số còn lại cất giấu trên trần nhà vệ sinh phòng 209. H cầm 01kg ma túy tổng hợp đi ra khu vực cột đồng hồ. Lúc này tại ngã 6, B nói với N ra khu vực cột đồng hồ để nhận 1kg ma túy từ H rồi điện thoại về cho C trả tiền mua 1kg ma túy cho B. Khi N lái xe đi nhận ma túy thì C ngồi trên xe ô tô của B ở trên đường trước khu vực Công an tỉnh Bắc Ninh để cho giao tiền cho B. Khi H và N đang thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại khu vực cột đồng hồ thì bị lực lượng công an tỉnh Bắc Ninh bắt quả tang. Sau đó bắt luôn cả B và C. Vật chứng thu giữ gồm:

Thu giữ của Nguyễn Văn H gồm: 01 bọc nilon màu đen, bên trong có đựng chất tinh thể màu trắng và một số tài sản khác;

Thu giữ của Hoàng Thế B gồm: 01 xe ô tô BKS 99A-A và một số tài sản khác.

Hai đối tượng mua ma túy tổng hợp là C và N đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra không bắt giữ được.

Căn cứ lời khai của H, Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ tại phòng 209 nhà nghỉ Hoa Sen các vật chứng:

- 01 gói được bọc ngoài bằng băng dính trắng, bên trong là lớp giấy màu bạc trắng rồi đến lớp nilon trắng. Trong bọc này có chứa các cục tinh thể màu trắng và 01 gói được bọc ngoài bằng băng dính trắng, bên trong là lớp giấy màu bạc màu trắng rồi đến lớp nilon màu trắng. Trong bọc này có chứa các cục tinh thể màu trắng.

- 01 chiếc cân đĩa nhãn hiệu Nhơn Hòa (loại 5kg).

Tại Bản kết luận giám định số 3820/C54 ngày 03/12/2013 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: “Chất tinh thể màu trắng trong các mẫu gửi giám định đều có thành phần Methamphetamine. Trọng lượng và hàm lượng các mẫu như sau:

- Mẫu kí hiệu M1 (01 túi nilon) trọng lượng: 939,8g, hàm lượng 82,1%.

- Mẫu kí hiệu M2 (02 gói bạc) tổng trọng lượng 1824,2g; hàm lượng trung bình là 80,7%.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn H đã bị xét xử theo Bản án phúc thẩm số 695/2016/HSPT ngày 02/12/2016 của TAND cấp cao tại Hà Nội xử phạt H tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bản án đã có hiệu lực pháp luật, hiện H đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Phú Sơn, tỉnh Thái Nguyên.

Ngày 10/02/2014, Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Bắc Ninh đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe ô tô BKS 99A-A cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Tiến Phong.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2018/HSST ngày 29 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định:

Áp dụng điểm e khoản 4, 5 Điều 194; điểm n, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 51; Điều 34 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Thế B tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với 23 năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 396/2016/HSST ngày 27/10/2016 của TAND thành phố Hà Nội, buộc bị cáo Hoàng Thế B phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là Tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày 03/12/2013 được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ 19/8/2011 đến 29/11/2011.

Phạt tiền bị cáo 20.000.000đ (Hai mươi triệu) đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/02/2018, bị cáo Hoàng Thế B có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, sau phần tranh luận công khai, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, đủ điều kiện xét xử theo trình tự phúc thẩm. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo có sự thay đổi lời khai, bị cáo cho rằng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo có bệnh tâm thần và bị cáo chỉ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy chứ bị cáo không phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. So sánh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” có cùng tính chất, mức độ. Án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt để xử phạt bị cáo tù chung thân là phù hợp, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo mua bán ma túy với số lượng lớn nhằm kiếm lời, quyết định hình phạt bổ sung với bị cáo là đúng quy định. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Luật sư nêu quan điểm bào chữa cho bị cáo: Án sơ thẩm có 2 nội dung chưa được làm rõ, về số lượng ma túy, S đưa cho B túi nilon màu đen, S có nói là trong này có 2kg ma túy tổng hợp, mang về mà bán. Số ma túy này được gói cẩn thận, đóng vào thùng gạch ốp lát, bị cáo B bám sát theo xe khách để theo dõi hàng của mình. B trực tiếp giao cho H, khi có khách thì H cân lấy 1kg để mang đi bán, số còn lại vẫn cất giữ tại trần nhà vệ sinh của phòng 209 nhà nghỉ Hoa Sen. Thu giữ của các bị cáo tổng lượng ma túy 2764 gam, hàm lượng ma túy của 2 mẫu giám định lại có sự khác biệt. Tăng 764 gam ma túy là do đâu, ai chịu trách nhiệm về lượng ma túy tăng lên này. Sau khi mua, B có chia số ma túy này thành 2 túi nilon màu trắng, 2kg cùng loại, tại sao khi bị thu giữ, giám định thì 2 mẫu ma túy lại có hàm lượng khác nhau. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra công khai tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo, của người bào chữa; Hội đồng xét xử, xét thấy:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo B không thành khẩn khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà cho rằng chỉ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy vì bị cáo được một người Trung Quốc tên là S cho bị cáo ma túy vào sáng ngày 29/11/2013 tại chợ Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Tuy nhiên, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo H, có đủ căn cứ xác định các bị cáo bị bắt khi đang mua bán 939,8 gam ma túy; Bị cáo B là người trực tiếp đi mua ma túy và tìm khách hàng để bán, bị cáo chỉ đạo H cất giấu ma túy. Cơ quan công an khám xét khẩn cấp phòng 209 nhà nghỉ Hoa Sen theo lời khai của Nguyễn Văn H, thu giữ 01 gói ma túy sau đó trưng cầu giám định có trọng lượng 1824,2gam, hàm lượng 80,7% và 01 cân đĩa nhãn hiệu Nhơn Hòa (loại 5kg). H và B đều khai toàn bộ số ma túy trên do B mang từ Móng Cái về. Với hành vi bị cáo đã thực hiện và lượng mà túy bị cáo đã mua bán, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm e khoản 4 Điều 194 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước ta. Hành vi phạm tội của bị cáo B xảy ra ở địa bàn một tỉnh biên giới hai nước Việt - Trung, không những tiếp tay cho người nước ngoài trong việc cùng mua bán trái phép chất ma túy đưa vào nước ta, đồng thời gián tiếp tạo điều kiện cho các tệ nạn xã hội như nghiện hút, tiêm chích và các tội phạm khác phát triển. Về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu, ngày 19/7/2012, TAND tỉnh Bắc Giang xử phúc thẩm phạt 03 năm tù về tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” nhưng B không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà lại cùng H mua bán trái phép chất ma túy. Hơn nữa, khi Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đã áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh với bị cáo, bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội và đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử bằng một vụ án khác. Do đó, cần phải xét xử thật nghiêm mới có tác dụng trừng trị, răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa trong việc tuyên truyền đấu tranh phòng chống về loại tội phạm nguy hiểm này.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo về thay đổi tội danh và xin giảm hình phạt của bị cáo cũng như luận cứ của luật sư bào chữa cho bị cáo mà cần chấp nhận lập luận của đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355 của Bộ luật tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm e khoản 4, khoản 5 Điều 194; điểm n, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 51; Điều 34 Bộ luật hình sự 1999, xử phạt bị cáo Hoàng Thế B Tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với 23 (hai mươi ba) năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 396/2016/HSST ngày 27/10/2016 của TAND thành phố Hà Nội, buộc bị cáo Hoàng Thế B phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là Tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày 03/12/2013 được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ 19/8/2011 đến 29/11/2011.

Phạt tiền bị cáo Hoàng Thế B 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

[2] Bị cáo Hoàng Thế B phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ