- Tranh chấp gì? án hình sự — "NKH và NTT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo NKH và NTT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 291/2024/HS - ST Ngày 27 tháng 12 năm 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân
Bà Nguyễn Thị Hồng
Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Minh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Chiến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 273/2024/HSST ngày 26/11/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 296/2024/QĐXXST – HS ngày 12/12/2024 đối với các bị cáo:
Họ và tên:
1. NKH, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1965; Nơi ĐKHKTT: Số 130 tổ 28 phường PL, quận ĐĐ, Hà Nội; chỗ ở: Số 130 tổ 28 phường PL, quận ĐĐ, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Con ông NKT sinh năm 1940 và con bà LTKD đã chết; có vợ đã ly hôn và 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: có 08 tiền án đã xóa: - Bản án số 44 ngày 15/02/1985, Tòa án nhân dân quận ĐĐ, thành phố Hà Nội xử 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản cua công dân; - Bản án số 22 ngày 16/01/1988, Tòa án nhân dân quận ĐĐ, thành phố Hà Nội xử 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản cua công dân; - Bản án số 182 ngày 16/5/1990 cua Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản cua công dân. Bản án số 1087 ngày 22/09/1990, Tòa phuc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao tuyên sửa án xử 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản cua công dân; - Bản án số 638 ngày 28/9/1994, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản cua công dân; - Bản án số 370 ngày 02/8/1997, Tòa án nhân dân quận HBT, thành phố Hà Nội xử 40 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; - Bản án số 630 ngày 28/9/1997, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử 30 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; - Bản án số 1636 ngày 13/12/1997, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản cua công dân, tổng hợp 40 tháng cua Bản án số 370 ngày 02/8/1997 và 30 tháng cua Bản án số 630 ngày 28/9/1997, tổng cộng hình phạt là 09 năm 10 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/5/2004. Không xác định được thông tin về việc nộp án phí; - Bản án số 170 ngày 25/4/2012, Tòa án nhân dân quận ĐĐ, thành phố Hà Nội xử 30 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong án phạt tù ngày 20/7/2013. Đã nộp án phí hình sự ngày 13/6/2012; Bắt khẩn cấp ngày 14/8/2024; Tạm giữ ngày 14/8/2024, tạm giam ngày 23/8/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.
2. NTT, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1979; Nơi ĐKHKTT: tổ 19 phường BM, quận BM, Hà Nội; Chỗ ở: Ngách 117/7 phố 8/3, phường QM, quận HBT, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông Nguyễn ĐH đã chết và con bà ĐTN gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 3; có vợ là NTTH có 02 con lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thu ngày 21/8/2024; Tạm giữ ngày 21/8/2024, tạm giam ngày 24/8/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI D VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 00 phut ngày 13/8/2024, tổ công tác Y11/141 Công an thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực trước số 59 NX, phường HĐ, quận Thanh Xuân, phát hiện NTT chở NKH bằng xe mô tô Honda Vision, biển kiểm soát: 29E1-86491, có biểu hiện nghi vấn, nên tổ công tác tiến hành dừng phương tiện để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, NTT cố tình điều khiển xe tăng ga bỏ chạy, NKH bước ra khỏi xe máy, ngồi về phía sau và dùng tay pH vứt 01 tui nilông chứa chất bột màu trắng vứt xuống gầm ô tô Mitsubishi, biển kiểm soát: 30K - 00773 màu trắng đang đỗ trên vỉa hè cách vị trí H ngồi khoảng 80cm, thì bị tổ công tác phát hiện, sau đó tổ công tác đã tiến hành thu giữ vật chứng và đưa H, T về trụ sở Công an phường HĐ để xử lý.
Tại Cơ quan điều tra, ban đầu NKH và NTT không thừa nhận gói ma tuy trên là cua mình, sau đó cả hai đều thay đổi lời khai và khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phut ngày 13/8/2024, NTT đi xe máy đến nhà H ru H đi mua ma tuy về sử dụng. Khi đi, T có đưa cho H 400.000 đồng, T chở H đến ngõ chợ đường NX, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. T dừng xe còn H đi bộ vào quán nước mía trong ngõ chợ mua Heroin. Sau khi mua được ma tuy, H cầm ở tay pH đi ra ngoài đường NX để T chở đi tìm nơi sử dụng, khi T chở Hải đến trước số nhà 59 đường Nguyễn Xiển thì bị công an kiểm tra. Thấy bị kiểm tra, H nhảy về phía sau và bị ngã xuống đường rồi tiện tay vứt tui nilông chứa ma tuý vào gầm xe ô tô cạnh đó. Luc mới bị kiểm tra cả T và H lo sợ nên không khai báo hành vi cua mình. Sau đó nhận thức được hành vi sai phạm nên cả H và T đều đã thừa nhận hành vi phạm tội cua mình.
Về nguồn gốc số ma tuý, H khai nhận: Qua một số mối quan hệ, H biết người phụ nữ tên “D”, khoảng 50 tuổi, “D” bán nước mía tại khu vực trước cửa hiệu thuốc tây số 74, đầu ngõ lối rẽ vào chợ đường NX, phường Thanh Xuân Nam, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. H đã mua ma tuy cua D nhiều lần nhưng H không biết số điện thoại và cũng không biết địa chỉ nhà D ở đâu. Cơ quan điều tra đã dân giải Hải đến khu vực Hải mua ma tuy cua D nhưng không phát hiện thấy D ở đó. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ đối tượng D.
Cơ quan công an đã thu giữ:
- 01 (một) tui nilong màu trắng, kích thước 3x4cm, bên trong tui chứa chất bột màu trắng.
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 promax, màu xanh đen, có vỏ ốp màu xanh, máy đã qua sử dụng, bên trong máy lắp sim số thuê bao 0976686665, số Imei 1: 35390010809271, Imei 2: 353900107925319, thu giữ cua NKH.
- 01 (một) điện thoại di động Mi 8, màu trắng đã qua sử dụng, phần lưng điện thoại vỏ bị rạn nứt, bên trong máy lắp sim số thuê bao: 0833822525, Imei 1: 862756040559316, Imei 2: 862756040559324, thu giữ cua NTT.
- 01 (một) xe máy Honda Vision màu xanh BKS: 29E1-86491, SM: JF58E-0041575; SK: RLHJF5809EY041465.
Tại bản kết luận giám định số 5981/KL-KTHS ngày 22 tháng 8 năm 2024 cua phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội cho kết quả: Chất bột màu trắng bên trong 01 tui nilông màu trắng là ma tuy loại Heroin, khối lượng 1,845 gam.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở cua NKH và NTT không phát hiện thu giữ tài liệu, đồ vật gì có liên quan đến vụ án. Xét nghiệm ma tuy đối với NKH và NTT đều cho kết quả dương tính.
Đối với chiếc xe máy Honda Vision, màu xanh, BKS: 29E1 - 86491 thu giữ cua NTT mang tên chị NTTH (sinh năm 1980) là vợ cua T. Ngày 13/8/2024, NTT đã sử dụng chiếc xe máy trên để ra ngoài, việc T điều khiển xe máy trên chở NKH đi mua ma tuy chị Hằng không biết và không liên quan. Ngày 06/11/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc xe máy trên cho chị NTTH.
Đối với 02 chiếc điện thoại thu giữ, NKH và NTT khai là tài sản cá nhân, được H và T sử dụng hàng ngày. Cơ quan điều tra đề nghị chuyển 02 chiếc điện thoại trên theo vật chứng vụ án đến cơ quan Thi hành án để xử lý theo quy định cua pháp luật.
Cáo trạng số 262/CT-VKS ngày 25/11/2024 cua Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố bị cáo NKH và NTT về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội D bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận việc bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuy” là đung người, đung tội, đung pháp luật. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo H và bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát vân giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo NKH từ 24 tháng đến 28 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuy”, thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2024. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo NTT từ 22 tháng đến 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuy”, thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2024. Các bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS. Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu huy tang vật vụ án gồm:
- 01 (một) phong bì niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký cua đương sự NKH, giám định viên Nguyễn Hoàng Hùng, người chứng kiến Nguyễn Văn Anh, Bùi Duy Quân, cán bộ Công an phường HĐ Nguyễn Tiến Vinh và đóng dấu cua Công an phường HĐ tại các mép dán. Bên trong có: 1,845 gam ma tuy loại Heroine (PC09 - CATP Hà Nội thu mâu giám định: 0,114 gam).
- 01 (một) tui nilong màu trắng kích thước 3x4 cm.
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 promax, màu xanh đen, có vỏ ốp màu xanh, máy đã qua sử dụng, bên trong máy lắp sim số thuê bao 0976686665, số Imei 1: 35390010809271, Imei 2: 353900107925319 đã qua sử dụng thu giữ cua bị cáo H cần trả lại bị cáo H.
- 01 (một) điện thoại di động Mi 8, màu trắng, phần lưng điện thoại vỏ bị rạn nứt, bên trong máy lắp sim số thuê bao: 0833822525, Imei 1: 862756040559316, Imei 2: 862756040559324, đã qua sử dụng thu giữ cua NTT cần trả lại bị cáo T.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đu, toàn diện chứng cứ, ý kiến cua Kiểm sát viên, lời khai cua các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp cua hành vi, quyết định tố tụng.
Các hành vi, quyết định cua Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Xuân, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đung về thẩm quyền, trình tự, thu tục quy định cua Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định cua Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng cua Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đung quy định cua pháp luật, các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa các bị cáo công nhận nội D bản cáo trạng đã nêu là đung. Qua xét hỏi và tranh luận các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai cua các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đu cơ sở khẳng định: Khoảng 15 giờ 00 phut ngày 13/8/2024, tại khu vực trước số 59 NX, phường HĐ, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, NTT và NKH có hành vi tàng trữ trái phép 1,845 gam ma tuy loại Heroin với mục đích để sử dụng thì bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng. Hành vi cua bị cáo NTT và NKH đu yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dân là có căn cứ, đung pháp luật.
Về tính chất nguy hiểm cua hành vi phạm tội: Xét thấy, hành vi phạm tội cua các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền cua nhà nước về chất ma tuy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Bản thân hai bị cáo là người trưởng thành, nhận thức rõ tác hại nhiều mặt cua ma tuy đến sức khỏe và đời sống cua con người, các bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuy là vi phạm pháp luật, đặc biệt bị cáo H có nhân thân xấu đã bị xử lý hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng vân thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần pH áp dụng một mức hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc phân công vai trò, bị cáo T là người khởi sướng việc sử dụng ma tuý, bị cáo đưa tiền cho bị cáo H mua ma tuý và cũng là người chở bị cáo H đi mua ma tuý và tìm nơi sử dụng ma tuý, bị cáo H là người trực tiếp giao dịch ma tuý nên vai trò cua bị cáo T nặng hơn bị cáo H.
.Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cua bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo H và bị cáo T không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng để giảm hình phạt cho bị cáo H. Đối với bị cáo T tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt chưa tiền án tiền sự, sau khi phạm tội đã ra đầu thu, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng để giảm hình phạt cho bị cáo T.
Mặc dù trong vụ án này vai trò cua bị cáo T nặng hơn bị cáo H, nhưng xét về nhân thân thì bị cáo H có nhân thân xấu đã 08 lần bị xử lý hình sự, bị cáo T có thêm tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên mức hình phạt áp dụng cho bị cáo H và bị cáo T như nhau.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo H và bị cáo T theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) phong bì niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký cua đương sự NKH, giám định viên Nguyễn Hoàng Hùng, người chứng kiến Nguyễn Văn Anh, Bùi Duy Quân, cán bộ Công an phường HĐ Nguyễn Tiến Vinh và đóng dấu cua Công an phường HĐ tại các mép dán. Bên trong có: 1,845 gam ma tuy loại Heroine (PC09 - CATP Hà Nội thu mâu giám định: 0,114 gam) cần tịch thu tiêu huỷ.
- 01 (một) tui nilong màu trắng kích thước 3x4 cm cần tịch thu tiêu huỷ.
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 promax, màu xanh đen, có vỏ ốp màu xanh, máy đã qua sử dụng, bên trong máy lắp sim số thuê bao 0976686665, số Imei 1: 35390010809271, Imei 2: 353900107925319 đã qua sử dụng thu giữ cua bị cáo H, bị cáo không sử dụng vào việc mua ma tuý nên trả lại bị cáo H.
- 01 (một) điện thoại di động Mi 8, màu trắng, phần lưng điện thoại vỏ bị rạn nứt, bên trong máy lắp sim số thuê bao: 0833822525, Imei 1: 862756040559316, Imei 2: 862756040559324, đã qua sử dụng thu giữ cua NTT, bị cáo không sử dụng vào việc mua ma tuý nên trả lại bị cáo H.
. Về án phí: Bị cáo H và bị cáo T pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cua Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
.Về quyền kháng cáo: Bị cáo H và bị cáo T có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo NKH và NTT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuy”.
Áp dụng:
- Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo NKH.
- Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo NTT.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Áp dụng: Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 cua Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
- Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cua Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.
Xử phạt: Bị cáo NKH 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2024.
Bị cáo NTT 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày từ ngày 21/8/2024.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huy tang vật vụ án gồm:
+ 01 (một) phong bì niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký cua đương sự NKH, giám định viên Nguyễn Hoàng Hùng, người chứng kiến Nguyễn Văn Anh, Bùi Duy Quân, cán bộ Công an phường HĐ Nguyễn Tiến Vinh và đóng dấu cua Công an phường HĐ tại các mép dán. Bên trong có: 1,845 gam ma tuy loại Heroine (PC09 - CATP Hà Nội thu mâu giám định: 0,114 gam).
+ 01 (một) tui nilong màu trắng kích thước 3x4 cm.
- Trả lại bị cáo H: 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 promax, màu xanh đen, có vỏ ốp màu xanh, máy đã qua sử dụng, bên trong máy lắp sim số thuê bao 0976686665, số Imei 1: 35390010809271, Imei 2: 353900107925319.
- Trả lại bị cáo T: 01 (một) điện thoại di động Mi 8, màu trắng đã qua sử dụng, phần lưng điện thoại vỏ bị rạn nứt, bên trong máy lắp sim số thuê bao: 0833822525, Imei 1: 862756040559316, Imei 2: 862756040559324.
Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/12/2024.
Án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo NKH và NTT mỗi bị cáo pH nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo NKH và NTT có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Thanh Xuân; - Công an quận Thanh Xuân; - Chi cục THADS quận Thanh Xuân; - Bị cáo; - Lưu HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Huyền |