- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị P - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 291/2019/HSST Ngày: 25-10-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quỹ.
Bà Trần Thị Nhung.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định. Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 289/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 289/2019/QĐ-HSST ngày 15-10-2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị P, sinh năm 1969 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số nhà 58 T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 03/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T; có chồng Đào Đình S (Đã ly hôn) và có hai con; tiền án: Ngày 09-02-2004 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 27-01-2010 Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy” (Ra trại ngày 30-8-2016); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 03-8-2001 Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08-8-2019 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng: Anh Vũ Quang M và ông Đỗ Quý B (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 45 phút ngày 08-8-2019, Tổ công tác Công an phường T phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa đền Hữu, tổ 29 T, phường T, thành phố N phát hiện Nguyễn Thị P đang đứng một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra P tự giác giao nộp từ tay phải 04 gói giấy bạc màu vàng, mở kiểm tra bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (P khai là 04 gói Heroine mang đi bán để kiếm lời). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng ký hiệu M sau đó đưa P và mời người làm chứng về trụ sở lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị P tại địa chỉ số nhà 58 T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định, thu giữ trên mặt chạn trong bếp nhà P 01 gói ni lông màu đen bên trong có 01 gói ni lông màu trắng kích thước khoảng 3 x 4 cm chứa chất bột dạng cục màu trắng và 24 gói giấy bạc màu vàng bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, niêm phong ký hiệu K.
Bản kết luận giám định số 793/GĐKTHS ngày 13-8-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận:
- Mẫu chất bột dạng cục màu màu trắng trong 02 phong bì thu giữ của P được niêm phong ký hiệu M và K gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu M: 0,294 gam. Tổng khối lượng mẫu K: 2,794 gam.
Tại Cơ quan điều tra: Nguyễn Thị P đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để bán kiếm lời và nguồn gốc số ma túy trên như sau: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 07-8-2019 P đi bộ từ nhà ra khu vực gầm cầu T, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định mua của một người đàn ông (Không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 gói Heroine được gói bằng túi ni lông màu trắng với số tiền 2.500.000 đồng, P cầm gói Heroine vừa mua mang về nhà chia thành 29 gói nhỏ (Trong đó 28 gói nhỏ được gói bằng giấy bạc màu vàng và 01 gói được gói bằng túi ni lông màu trắng) để bán cho khách với giá 100.000 đồng/gói. Sau đó P cất toàn bộ số ma túy trên vào trong túi ni lông màu đen để trên mặt chạn trong bếp nhà P. Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 08-8-2019 P lấy 04 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng trong túi ni lông màu đen để trên mặt chạn cầm trong tay phải ra khu vực trước cửa đền Hữu, tổ 29 T, phường T, thành phố N để có ai hỏi mua thì bán nhưng đã bị phát hiện bắt giữ.
Bản Cáo trạng số 292/CT-VKSTPNĐ ngày 07-10-2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm q Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Thị P xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng biện pháp ép cung, bức cung hay nhục hình. Bị cáo khai nhận biết rõ hành vi mua bán trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì mục đích kiếm lời nên đã mua ma túy để bán lại cho các con nghiện và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu là đúng. Bị cáo ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo là hộ cận nghèo. Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thị P theo Điểm q Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Điểm q Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo Nguyễn Thị P từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù giam; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị P trong phong bì niêm phong số 793/GĐKTHS.
Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị P có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng; biên bản mở niêm phong vật chứng; bản kết luận giám định số 793/GĐKTHS ngày 13-8-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và lời khai của những người làm chứng nên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ 45 phút ngày 08-8-2019, tại khu vực trước cửa đền Hữu, tổ 29 T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 3,088 gam Heroine với mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi bán ma túy kiếm lời bất chính của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã ba lần bị đưa ra xét xử về các tội đều liên quan đến ma tuý trong đó có hai tiền án chưa được xóa án tích nên lần này phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử theo Điểm q Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội.
Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu đã từng bị đưa ra xét xử về các tội liên quan đến ma túy.
Về hình phạt: Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cao hơn mức đề xuất của Viện kiểm sát để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Xét thấy bị cáo bán ma túy với mục đích kiếm lời bất chính nhưng gia đình là hộ cận nghèo nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Cơ quan điều tra Công an thành phố N đang tiến hành xác minh nên tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điểm q Khoản 2 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 08-8-2019.
- Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Xử lý vật chứng, tài sản: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị P trong phong bì niêm phong số 793/GĐKTHS (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03-10-2019 giữa Công an thành phố N với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo Nguyễn Thị P có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Toà án ND.Tỉnh Nam Định; - Viện kiểm sát ND.Tỉnh Nam Định; - Viện kiểm sát NDTP.N; - Công an TP.N; - Chi cục Thi hành án dân sự TP.N; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Nguyên |