- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 291/2019/HSST Ngày: 28/11/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn
Ông Lưu Văn Thông.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đinh Nho Bình – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy - thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy - thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 302/2019/HSST ngày 15/11/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 306/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H - sinh năm: 1987 tại Tuyên Quang; ĐKHKTT: Trung tâm A, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; Chỗ ở: Không cố định; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 09/12 ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Xuân T (c); Con bà: Trương Thị H; Có chồng: Mạc Văn T; Và 01 con sinh năm 2009; Danh chỉ bản số 458 do Công an quận Cầu Giấy lập ngày 12/09/2019; Tiền án, Tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị bắt, tạm giam ngày 06/09/2019; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 35 phút ngày 06/09/2019, tổ công tác Công an phường M, quận Cầu Giấy, Hà Nội tiến hành kiểm tra hành chính tại quán điện tử S, số A ngõ B đường P, phường M, quận C, Hà Nội. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong túi xách của Nguyễn Thị H có 01 vỏ hộp thuốc Trangala, bên trong chứa 01 túi nilon kích thước 7cm x 11,5cm chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, H khai nhận đó là ma túy đá của H để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ, niêm phong tang vật và đưa H về trụ sở để làm việc. Ngoài ra, cơ quan công an thu giữ của H 01 túi xách giả da màu cam; 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel màu đen có sim số 0342738818 và 0975717611.
Kết luận giám định số 5796/KLGĐ – PC09 ngày 13/09/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,232 gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H khai nhận: khoảng 02 giờ ngày 06/09/2019, H ngồi chơi ở đầu ngõ B đường P thì gặp K là bạn quan biết ngoài xã hội (H không biết nhân thân, lai lịch của K). Tại đây, H mua của K 01 túi nilon ma túy đá với giá 300.000 đồng, được cất trong vỏ bao thuốc nhãn hiệu Trangala, mục đích để sử dụng. Sau đó, H cất ma túy vào túi xách đeo bên người rồi đi đến quán điện tử S, số A ngõ B đường P, phường M, quận C, Hà Nội để chơi thì bị lực lượng công an bắt giữ cùng tang vật như trên.
Xét nghiệm nước tiểu của Nguyễn Thị H cho kết quả dương tính với ma túy.
Đối với đối tượng có tên là K bán ma túy cho H, do H không biết nhân thân, lai lịch nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
Đối với chiếc điện thoại Mastel màu đen là tài sản cá nhân của H, không liên quan đến vụ án.
Tại bản cáo trạng số 302/CT-VKSCG ngày 13/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đã truy tố Nguyễn Thị H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Thị H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Thị H từ 15 tháng tù đến 20 tháng tù. Miễn phạt tiền cho bị cáo.
Vật chứng là ma túy và 01 chiếc túi xách giả da màu cam cần tịch thu tiêu hủy.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Mastel màu đen.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì thêm, chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào những chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cầu Giấy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những lời khai bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được, do vậy có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 35 phút ngày 06/09/2019, tại quán điện tử S, số A ngõ B đường P, phường M, quận C, Hà Nội, tổ công tác Công an phường M đã phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Thị H có hành vi tàng trữ 0,232 gam Methamphetamin, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước vể ma túy, đã tự hủy hoại sức khỏe của con người gây ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của xã hội, cũng như gây mất trật tự trị an tại địa phương nơi có tội phạm xảy ra. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, có nhận thức đầy đủ về tác hại của ma túy và đường lối xử lý của pháp luật, nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử xét bị cáo khai báo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần này là lần đầu, lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Về vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo và 01 chiếc túi xách giả da màu cam cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại di động Mastel là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm Sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị H từ 15 tháng tù đến 20 tháng tù là phù hợp so với hành vi của bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Điều 106, Điều 136, Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Thị H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/09/2019.
Vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của đối tượng Nguyễn Thị H và giám định viên Lê Khắc N bên trong có chứa: tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,232 gam; 01 túi sách giả da màu cam đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động kiểu dáng Mastel màu đen, bên trong có sim, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
(theo Biên bản giao nhận vật chứng số 30 ngày 13/11/2019 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy).
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Cầu Giấy; - Chi cục THADS quận Cầu Giấy; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Lương |