- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị H - Đánh bạc - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Thị H 10 (Mười) tháng tù về tội: “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 290/2025/HSST Ngày 24-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quang Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Tuấn
Ông Nguyễn Văn Đông
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Đào Trọng Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 278/2025/TLST-HS ngày 10/12/2025 theo Quyết định xét xử số 191/2025/QĐXXST-HS ngày 11/12/2025 đối với các bị cáo:
1. Lê Thị H - Giới tính: Nữ; sinh năm: 1960; tại: Hà Nội; nơi cư trú: Thôn T, xã B, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10; con ông: Lê Văn Ứ (c) và con bà: Dương Thị Đ (c); chồng: Lê Văn L (c); có 02 con, con lớn sinh năm 1987 và con nhỏ sinh năm 1989; TATS: Theo danh chỉ bản số 06 ngày 27/9/2025 do Công an xã B và lý lịch bị can thì bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 18/9/2025, đến ngày 27/9/2025 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
2. Nguyễn Văn C - Giới tính: N; sinh năm: 1995; tại: Hà Nội; nơi cư trú: Thôn T, xã B, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; con ông: Nguyễn Văn T và con bà: Phạm Thị N1; vợ: Phạm Thị Thu H1, có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019; TATS: Theo danh chỉ bản số 07 ngày 27/9/2025 do Công an xã B và lý lịch bị can thì bị cáo có chưa có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 18/9/2025, đến ngày 27/9/2025 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn C và Lê Thị H là hàng xóm ở cạnh nhà nhau, C và H có thống nhất việc đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức mua bán số lô đề, khi C muốn mua số lô đề thì sẽ nhắn tin qua ứng dụng zalo từ tài khoản đăng ký số điện thoại 0878282184 đến tài khoản đăng ký số điện thoại 0357349345 của H, việc mua bán số lô đề và cách tính được thua lô đề được xác định như sau: đối với 01 điểm lô, Nguyễn Văn C phải trả 22.500 đồng, nếu trúng sẽ được hưởng 80.000 đồng; đối với 1.000 đồng tiền mua đề, nếu trúng Nguyễn Văn C sẽ được hưởng 80.000 đồng từ Lê Thị H. Nếu không trúng thì Nguyễn Văn C sẽ mất toàn bộ số tiền đã mua cho Lê Thị H. Kết quả thắng thua sẽ căn cứ vào kết quả mở thưởng của xổ số Miền bắc ngày hôm đó, số lô được tính là 02 số cuối của tất cả các giải, số đề được tính là 02 số cuối của giải đặc biệt.
Chiều ngày 17/9/2025, Nguyễn Văn C sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 lắp số sim 0878282184 của mình nhắn tin qua ứng dụng zalo cho Lê Thị H vào số điện thoại 0357349345 để mua các số lô đề như sau: Số lô “55,77x 30đ, 676x50đ” được hiểu là: Số 55 và 57 mỗi số 30 điểm, số 67 và 76 mỗi số 50 điểm; Số đề “55,77x60k” được hiểu là số 55 và 77 mỗi số 60.000 đồng; Số đề “Đầu 5x15k” được hiểu là đầu 5 mỗi số 15.000 đồng (bao gồm các số 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59); Số đề “Đít 0x15k” được hiểu là đít 0 mỗi số 15.000 đồng (bao gồm các số 00, 10, 20, 30, 40, 50, 60, 70, 80, 90); Số đề “10,11x50k” được hiểu là số 10 và 11 mỗi số 50.000 đồng; Số đề “161,151x30k” được hiểu là số 16, 61, 15,51 mỗi số 30.000 đồng; Số đề “050,55,00x40K” được hiểu là số 05, 50, 55, 00 mỗi số 40.000 đồng ; Số đề “252x15k” được hiểu là số 25, 52 mỗi số 15.000 đồng; Số đề “363x20k” được hiểu là số 36, 63 mỗi số 20.000 đồng; Số đề “474x20K” được hiểu là số 47, 74 mỗi số 20.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Văn C mua lô đề là 4.510.000 đồng.
Sau mỗi tin nhắn mua số lô đề trên thì Lê Thị H sẽ nhắn xác nhận là “ok”. Căn cứ vào kết quả mở thưởng xổ số Miền bắc ngày 17/9/2025 thì Nguyễn Văn C trúng các số lô 67 được 50 điểm bằng 8.000.000 đồng (số 67 trúng 02 lần), số đề 05 được 40.000 đồng bằng 3.200.000 đồng. Tổng số tiền trúng lô đề là 11.200.000 đồng, sau khi trừ chi phí mua lô đề ban đầu là 4.510.000 đồng thì Nguyễn Văn C thắng được 6.990.000 đồng. Sau khi nhắn tin xong do sợ bị gia đình phát hiện nên C đã dùng chiếc điện thoại riêng của mình là điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 pro max đang dùng số sim 0968743422 để chụp lại hình ảnh để lưu, đối chiếu thắng thua, không dùng để liên hệ đánh bạc. Còn tin nhắn đã nhắn với Lê Thị H bằng chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 lắp số sim 0878282184 thì Nguyễn Văn C đã xoá đi. Nguyễn Văn C và Lê Thị H đã liên hệ để xác nhận số tiền thắng thua với nhau nhưng chưa gặp nhau để thanh toán và đã bị cơ quan công an phát hiện ngày 18/9/2025, như vậy số tiền mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc ngày 17/9/2025 là 15.710.000 đồng.
Đối với các số điện thoại 0878282184, 0357349345, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Lệnh thu giữ điện tín, kết quả: Số điện thoại 0878282184 đăng ký chính chủ Nguyễn Văn C, số điện thoại 0357349345 đăng ký chính chủ Lê Thị H.
Tại bản kết luận giám định số 8390/KL-KTHS ngày 05/11/2025 của V - Bộ C2, kết luận:
1. Trong đối tượng gửi giám định ký hiệu A1 là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro max màu trắng, có số MEI 1: 353902105846596, IMEI 2: 353902105943443 kèm theo 01 sim số : 898404000035957378
- Trích xuất được: 46 tin nhắn SMS, 7664 tin nhắn Z, 1965 file ảnh trong khoảng thời gian từ ngày 01/9/2025 đến ngày 18/9/2025 (theo thời gian hiển thị trên dữ liệu). Chi tiết hiển thị trong thư mục "A1" lưu trữ trong đĩa DVD.
- Không tìm thấy tin nhắn Messenger trong máy điện thoại, dữ liệu trong SIM.
2. Trong đối tượng gửi giám định ký hiệu A2 là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng trắng, đã qua sử dụng, có số IMEI: 355838081020723 kèm theo sim số: 89840810008722520489.
- Trích xuất được: 868 tin nhắn Zalo lưu trữ trong khoảng thời gian từ ngày 01/9/2025 đến ngày 18/9/2025 (theo thời gian hiển thị trên dữ liệu). Chi tiết hiển thị trong thư mục "A2" lưu trữ trong đĩa DVD.
- Không tìm thấy tin nhắn SMS, tin nhắn Mesenger, ảnh trong khoảng thời gian từ ngày 01/9/2025 đến ngày 18/9/2025 lưu trữ trong máy điện thoại, dữ liệu trong SIM.
* Tại bản cáo trạng số: 57/CT-VKSKV5 ngày 09/12/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội đã truy tố các bị cáo Lê Thị H và Nguyễn Văn C về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội đã truy tố.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo Lê Thị H và Nguyễn Văn C đã phạm tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo Lê Thị H và Nguyễn Văn C:
a. Đối với bị cáo Lê Thị H:
- Đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt: 09 tháng - 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 - 24 tháng về tội “Đánh bạc”.
- Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung
b. Đối với bị cáo Nguyễn Văn C:
- Đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt: 09 tháng - 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 - 24 tháng về tội “Đánh bạc”.
- Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.
2. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro max màu trắng, đã qua sử dụng, có số MEI 1: 353902105846596, IMEI 2: 353902105943443 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng trắng, đã qua sử dụng, có số IMEI: 355838081020723, đã qua sử dụng thu của bị cáo C là công cụ, phương tiện của bị cáo thực hiện phạm tội.
3. Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng/01 bị cáo.
Nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5
- Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
* Về tội danh:
. Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội đã truy tố.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Chiều ngày 17/9/2025, tại thôn T, xã B, thành phố Hà Nội, các bị cáo Lê Thị H và Nguyễn Văn C có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức mua bán số lô, số đề với tổng số tiền phải chịu trách nhiệm hình sự là 15.710.000 đồng.
. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã cố ý xâm phạm đến trật tự công cộng được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh đối với các bị cáo.
. Hành vi của các bị cáo Lê Thị H và Nguyễn Văn C đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc”; tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Hà Nội đề nghị truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
* Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Lê Thị H và Nguyễn Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ: Nhân thân của các bị cáo đều chưa có tiền án - tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
* Về việc áp dụng hình phạt đối với các bị cáo:
. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy đáng ra phải xử phạt các bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhằm cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới thỏa đáng. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng, các bị cáo đều có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên mở lượng khoan hồng cho các bị cáo và chỉ cần xử phạt các bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhưng cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự; đồng thời giao các bị cáo cho chính quyền địa phương cùng gia đình theo dõi, giám sát ttrong thời hạn thử thách cũng đủ điều kiện cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
* Về hình phạt bổ sung:
. Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ.
* Về xử lý vật chứng:
. Thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro max màu trắng, đã qua sử dụng, có số MEI 1: 353902105846596, IMEI 2: 353902105943443 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng trắng, đã qua sử dụng, có số IMEI: 355838081020723 là điện thoại của bị cáo sử dụng để tham gia đánh bạc nên cần cho tịch thu sung công quỹ nhà nước là có căn cứ.
* Về các vấn đề khác:
. Đối với chiếc điện thoại bị cáo H sử dụng để nhắn tin mua bán số lô, số đề với bị cáo Nguyễn Văn C, bị cáo H không nhớ để ở đâu nên không giao nộp lại được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo Lê Thị H tại thôn T, xã B, thành phố Hà Nội nhưng không phát hiện thu giữ được gì nên không có căn cứ để xử lý đối với điện thoại này.
* Về án phí:
. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
* Về quyền kháng cáo:
. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Lê Thị H 10 (Mười) tháng tù về tội: “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 20 tháng tính từ khi tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 09 (C1) tháng tù về tội: “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 18 tháng tính từ khi tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Lê Thị H và Nguyễn Văn C cho UBND xã B, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về hình phạt bổ sung: Không.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng trắng, đã qua sử dụng, có số IMEI: 355838081020723 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro max màu trắng, đã qua sử dụng, có số MEI 1: 353902105846596, IMEI 2: 353902105943443 thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn C.
(Các vật chứng trên hiện có tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5 - Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/12/2025)
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Lê Thị H, Nguyễn Văn C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND Khu vực 5 - Hà Nội; - Công an thành phố Hà Nội; - Phòng THADS Khu vực 5 - Hà Nội; - UBND xã B, thành phố Hà Nội (Thay cho thông báo kết quả xét xử); - Bị cáo và những người TGTT khác; - Lưu. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Quang Dũng |