vanban.org

Bản án 290/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 28/09/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hoàng T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA N N N N N ÒA
N
N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 290/2017/HSPT
Ngày: 28/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚ

N Ò

N

N M

Ò N N N N N

N HÁP

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai

Các Thẩm phán:

Ông Sỹ Danh Đạt

Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn Em – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Bích Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 254/2017/HSPT ngày 13 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo Phạm Hoàng T.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2017/HSST ngày 04 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện L.

Bị cáo có kháng cáo:

M

N

- Tên gọi khác: B;

- Sinh năm 1978;

- HKTT: Số A ấp An L, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp;

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Hòa Hảo;

- Nghề nghiệp: Làm mướn;

- Trình độ học vấn: 01/12;

- Con ông Phạm Văn T1 và con bàNguyễn Thị N;

- Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo thứ năm trong gia đình;

-Vợ: Trần Thị Thu H và có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2008;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú: Ngày 08/5/2017.

- Bị cáo đang tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Hoàng T: Luật sư Nguyễn Hồng T2 – Văn phòng luật sư Hồng T3, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ n ng i h i không h ng c o và Viện iểm s t hông h ng ngh .

N N

:

h o c o tr ng c a Viện iểm s t nh n d n hu ện và n n h nh s sơ thẩm c a a n nh n d n hu ện th nội dung vụ n đ c tóm t t nh sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 18/02/2017, khi đang cùng uống rượu với Lê Ngọc Nhí E tại nhà Nhí E, thuộc ấp An L, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, thì Phạm Hoàng T nhận được điện thoại của vợ là chị Trần Thị Thu H cho biết cha vợ của T là ông Trần Văn N1 bị anh Trần Văn C xô té xuống mương nước. Nghe vậy, T điều khiển xe mô tô đến nhà anh Ảnh ngụ cùng ấp An L, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp để hỏi chuyện. Nhí E thấy vậy nên đi theo T nhằm để can ngăn khi có đánh nhau, vì trong người T đã có rượu. Đến khoảng 17 giờ 10 phút, T đến đậu xe trước cửa nhà ông N1, cách nhà anh C khoảng 50m. Sau đó T và Nhí E đi bộ ra ruộng phía sau nhà ông N1 thuộc ấp An L, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. T gặp anh C và anh Huỳnh Văn B1 (C1) đang đứng nói chuyện, T đi lại chỗ anh C đang đứng và kêu “C ơi, C à”, anh C trả lời “Tao nè mày kiếm tao làm gì ?”, T nói “Kiếm mày để đánh chứ làm gì, vì mày ăn hiếp ông già vợ tao”. Nói xong T đi đến đứng đối diện dùng tay phải đánh 01 cái trúng vào vùng ngực của anh C, anh C đánh trả lại bằng tay trúng 01 cái vào vai trái của T. T tiếp tục dùng tay phải đánh cái thứ hai trúng vào bụng anh C, anh C cũng tiếp tục đánh trả lại trúng vào vùng mũi của T. Thấy vậy anh B1 chạy lại ôm T, Nhí E chạy lại ôm anh C can ra. Anh B1 kêu T “Mày về đi”, T bỏ đi khoảng 02m thì thấy 01 khúc gỗ nằm cặp bờ ranh nên nhặt khúc gỗ lên, chạy lại chỗ Nhí E còn đang ôm anh C. T đứng đối diện cách anh C khoảng 01m, tay phải cầm cây đánh từ trên xuống trúng vào vùng đầu của anh C, làm khúc cây bị gãy làm 02 đoạn. T cầm đoạn cây gỗ dài khoảng 35cm, đường kính rộng nhất khoảng 4,5cm còn lại tiếp tục đánh cái thứ hai từ trên xuống, thì anh C giơ tay trái lên đỡ nên trúng vào cổ tay, anh C la lên “Gãy tay tao rồi”, T bỏ khúc gỗ tại chỗ và đi ra lấy xe chở Nhí E về nhà. Còn anh C được anh B1 và gia đình đưa đến bệnh viện đa khoa huyện L để cấp cứu.

Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) khúc gỗ khô đã bị gãy làm hai đoạn, một đoạn dài 35cm, đường kính chỗ rộng nhất là 4,5cm; một đoạn dài 41cm, đường kính rộng nhất là 05cm.

Ngày 11/5/2017 Cơ quan điều tra đã cho Phạm Hoàng T nhận dạng khúc gỗ mà cơ quan điều tra đã thu giữ và T xác nhận khúc gỗ bị gãy làm 02 đoạn nêu trên đúng là khúc gỗ mà T dùng để gây thương tích cho anh Trần Văn C vào ngày 18/02/2017.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 92/TgT-TTPY ngày 30/3/2017 của Trung tâm pháp y Đồng Tháp kết luận Trần Văn C, sinh năm 1974 như sau:

- Sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh đầu lành tốt (TLTT: 02%).

- Gãy 1/3 dưới xương trụ trái đã kết hợp xương (TLTT: 06%).

Tổng tỷ lệ thương tật là 08% (Tám phần trăm) tại thời điểm giám định.

Ngày 04/5/2017 anh Trần Văn C làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Phạm Hoàng T và Lê Ngọc Nhí E, yêu cầu bồi thường chi phí điều trị, tiền ngày công lao động, tổn thất tinh thần tổng cộng là 78.162.156đ.

Phạm Hoàng T đã khắc phục bồi thường cho anh Trần Văn C số tiền 3.000.000đ.

i n n h nh s sơ thẩm số: 19/2017/HSST ngày 04/8/2017 c a Tòa án nhân dân hu ện đã qu ết đ nh:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hoàng T phạm tội “Cố ý g th ơng tích”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 104; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tu ên về tr ch nhiệm d n s xử ý vật ch ng án phí và qu ền h ng cáo th o uật đ nh.

Ngày 17 tháng 8 năm 2017, bị cáo Phạm Hoàng T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp, đề nghị: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Hoàng T, sửa quyết định bản án sơ thẩm về hình phạt và đề nghị giảm cho bị cáo từ 01 đến 02 tháng tù.

Tại phiên tòa Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất án sơ thẩm xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự. Đồng thời Luật sư cũng viện dẫn các căn cứ như người bị hại có lỗi trước, do người bị hại đánh ông già vợ bị cáo nhiều lần nên bị cáo mới phạm tội, hoàn cảnh gia đình bị cáo nghèo và trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Sau khi án sơ thẩm xử bị cáo nộp khắc phục hậu quả thêm 7.000.000đ và nộp 1.749.000đ tiền án phí. Do đó đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo hoặc giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến bào chữa Luật sư, lời khai bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

:

Bị cáo Phạm Hoàng T và Trần Văn C (người bị hại) không có mâu thuẫn gì với nhau. Nhưng khi bị cáo uống rượu với Lê Ngọc Nhí E thì Trần Thị Thu H (vợ bị cáo) điện thoại cho biết ông N1 (cha vợ) bị C xô té xuống mương nước. Đáng lý ra khi nghe sự việc bị cáo phải bình tĩnh giải quyết hay báo cho cơ quan công an đến giải quyết. Bị cáo lại chạy xe mô tô đi tìm anh C với mục đích là để đánh anh C trả thù cho ông già vợ. Khi gặp anh C chưa biết sự việc như thế nào bị cáo lại dùng tay phải đánh vào vùng ngực anh C. Sau đó hai bên còn đánh qua lại, chửi thề thô tục qua lại với nhau, nhưng được mọi người can ngăn. Sau khi được can ngăn bị cáo không ra về mà để thỏa cơn tức giận, bị cáo tiếp tục lấy khúc gỗ 02m cặp bờ đi đến đứng đối diện tay phải cầm cây đánh từ trên xuống trúng vào vùng đầu anh C, cây bị gãy làm 02 đoạn. Bị cáo tiếp tục cầm đoạn cây gỗ gãy đánh cái thứ hai từ trên xuống đầu, thì anh C giơ tay trái lên đỡ nên trúng vào cổ tay, tổng tỷ lệ thương tật là 08%.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã có uống rượu trong người lại chủ động đi tìm người bị hại để đánh nhau. Sau khi được mọi người can ngăn là tốt cho bị cáo, nhưng bị cáo vẫn cố ý sử dụng khúc cây đánh vào vùng đầu liên tiếp 2 cái, anh Ảnh đỡ được nên trúng tay gãy 1/3 tay. Trong khi bản thân bị cáo nhận thức được tính mạng sức khỏe con người được pháp luật bảo vệ. Nhưng bị cáo vẫn lấy khúc cây gỗ sử dụng đánh vào đầu anh C là nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe người bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe người bị hại và còn làm tổn thất về mặt tinh thần. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, chứng tỏ bị cáo là người xem thường pháp luật của Nhà nước. Do đó xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo cần có thời gian cải tạo giáo dục bị cáo để bị cáo trở thành công dân tốt, giúp ích cho bản thân và xã hội.

Án sơ thẩm xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đã xem xét hết tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, mức hình phạt 09 tháng tù là không nặng. Bị cáo kháng cáo và Luật sư bào chữa cho bị cáo xin cho bị cáo hưởng án treo là không có căn cứ để chấp nhận. Nhưng xét thấy sau khi án sơ thẩm xử bị cáo tiếp tục khắc phục thêm phần bồi thường 7.000.000đ và nộp 1.749.000đ tiền án phí là tình tiết mới. Do đó, cần xem xét giảm cho bị cáo một phần về hình phạt là phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiển sát.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì c c ẽ trên,

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự.

QU Ế ỊN :

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Hoàng T. Sửa định quyết định bản án sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hoàng T phạm tội “Cố ý g th ơng tích”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 104; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng T 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Bị cáo Phạm Hoàng T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

M

N

M Nơi nh n:

t

hẩm hán - hủ tọa hiên tòa

- VKSND Tỉnh;

- Ban Nội chính Tỉnh ủy;

- Sở Tư pháp Tỉnh;

- TAND H. L;

- Chi cục THADS H. L;

- Trại Tạm giam Công an Tỉnh;

- Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;

- Phòng KTNV-THA TA Tỉnh;

- Bị cáo;

- Lưu VT, hồ sơ vụ án (T. Em).

Nguyễn hị Mai

M

N

M

N–

Ọ

ÊN Ò Tô h ông –

anh t

Nguyễn hị Mai

á hẩm hán

hẩm hán – hủ tọa hiên tòa Tô h ông – Nguyễn hị Mai

Nguyễn hành hơ

Cỡ chữ