vanban.org

Bản án 29 — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần M1 (Jupiter);

Buộc anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H phải trả cho Công ty Cổ phần M1 (Jupiter) theo Hợp đồng cho vay số LN1807160802451 ngày 18/07/2018 tính đến ngày 05/5/2026, số tiền nợ gốc là 128.776.959đ, nợ lãi 211.947.182đ; tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 340.724.141đ (Ba trăm bốn mươi triệu, bẩy trăm hai mươ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty cổ phần MNB Jupiter - Vi Văn M, Hoàng Thị H"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần M1 (Jupiter);
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 29/2026/DS- ST
Ngày 05/5/2026
“V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Toàn; Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Thành; ông Lã Văn Minh;

- Thư ký phiên toà: Bà Sầm Thị Thao – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 – Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên. Trong ngày 05 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 – Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 318/2025/TLST- DS, ngày 27/11/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2026/QĐXXST-DS, ngày 09 tháng 4 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2026/QĐST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần M1 (Jupiter); Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà C, số B phố T, phường Y, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Anh T – Chức vụ: Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Sỹ T1 – Chuyên viên xử lý nợ; (vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Vi Văn M, sinh năm 1990;

Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1996; Cùng nơi thường trú: Thôn D, xã L, tỉnh Bắc Ninh (anh M, chị H đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

[1] Theo đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa đại diện Công ty Cổ phần M1 (M1) trình bày:

Ngân hàng TMCP V (V1) – Chi nhánh B (Nay là Bắc Ninh) với anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H có ký 02 hợp đồng cho vay:

Hợp đồng cho vay số LN1807160802451 ngày 18/07/2018, anh Vi Văn M và chị Hoàng Thị H vay vốn tại V2 số tiền 180.000.000 đồng; Thời hạn vay: 60 tháng; Mục đích sử dụng vốn: hoàn vốn tiền mua chiếc xe ô tô đã qua sử dụng, lãi suất cho vay (trong hạn) tại thời điểm giải ngân là 11,3%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 20/10/2018, điều chỉnh sau đó vào ngày 01/01/2019 mức điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm thường VNĐ tại quầy kỳ hạn 24 tháng trả lãi cuối kỳ đối với mức tiền gửi tiết kiệm cao nhất của V1 đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 8,4%/năm (“Mức lãi suất cho vay điều chỉnh”).

Tài sản bảo đảm: Anh M, chị H đã thế chấp 01 xe ô tô, nhãn hiệu HYUNDAI GRAND 1.1 MT, số khung 51AÀM157863, số máy G3LAEM192565, BKS: 98C-18924 do Phòng C công an tỉnh B cấp, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của Vi Văn M, bà Hoàng Thị H.

Hợp đồng cho vay số LD1928400408 ngày 11/10/2019, anh Vi Văn M vay vốn tại V2 trên kênh V2 qua số Gmail vi van mạnh 1990 @ gmail.com và số điện thoại của anh M 0822992111, số tiền 36.000.000 đồng; Thời hạn vay 36 tháng; Mục đích sử dụng vốn: Phục vụ nhu cầu đời sống và mua bảo hiểm sinh mạng người vay tín dụng; không thế chấp tài sản.

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh M, chị H mới thanh toán Hợp đồng cho vay số LN1807160802451 ngày 18/07/2018 được số tiền gốc 51.223.041 đồng, nợ lãi 28.486.437; tổng cộng gốc, lãi là 79.709.478 đồng. Hợp đồng cho vay số LD1928400408 ngày 11/10/2019, anh Vi Văn M chưa trả được tiền gốc, lãi.

Anh M, chị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo nội dung đã cam kết trong hợp đồng, đến nay hợp đồng tín dụng số LN1807160802451 đã quá hạn 02 năm 09 tháng 16 ngày; hợp đồng tín dụng số LD1928400408 đã quá hạn 3 năm 06 tháng 23 ngày.

Theo Hợp đồng Mua bán nợ số 15/2024/VPB-JUPITER ngày 27/12/2024 và Phụ lục đính kèm giữa Ngân hàng TMCP V (V2) với Công Ty Cổ Phần M1 của khách hàng vay là anh Vi Văn M và chị Hoàng Thị H cụ thể như sau: Toàn bộ (100%) khoản nợ phát sinh theo Hợp đồng cho vay số LN1807160802451 ngày 18/07/2018, Hợp đồng cho vay số LD1928400408 ngày 11/10/2019;

Công ty J toàn bộ quyền, nghĩa vụ của V2 phát sinh từ các hợp đồng này và các biện pháp bảo đảm kèm theo. Quá trình xử lý khoản vay, Công ty M1 đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu anh M, chị H thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay cho Công ty M1 tuy nhiên anh M, chị H không thực hiện. Tính đến ngày 05/5/2026 tổng dư nợ của anh M, chị H còn phải thanh toán cho Công ty M1 Hợp đồng cho vay số LN1807160802451 ngày 18/07/2018 số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 05/5/2026 là 340.724.141đ (nợ gốc là 128.776.959đ, nợ lãi 211.947.182đ). Hợp đồng cho vay số LD1928400408 ngày 11/10/2019 số tiền anh M nợ gốc và lãi tính đến ngày 05/5/2026 là 100.968.462đ (nợ gốc là 36.000.000đ, nợ lãi là 64.968.462đ).

Công ty M1 đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H phải thanh toán cho Công ty Cổ phần M1 Hợp đồng cho vay số LN1807160802451 ngày 18/07/2018 số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 05/5/2026 là 340.724.141đ (nợ gốc là 128.776.959đ, nợ lãi 211.947.182đ). Anh Vi Văn M phải thanh toán cho Công ty Cổ phần M1 Hợp đồng cho vay số LD1928400408 ngày 11/10/2019, số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 05/5/2026 là 100.968.462đ (nợ gốc là 36.000.000đ, nợ lãi là 64.968.462đ).

Đề nghị tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 06/5/2026 cho đến khi anh M và chị H thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng nợ đã ký.

Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

[2] Bị đơn anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H vắng mặt tại nơi cư trú, Tòa án đã niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, thông báo phiên họp và hòa giải, các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử để anh M, chị H được biết đến làm việc tại Tòa án nhưng không đến làm việc nên Tòa án không thu thập được lời khai của anh M, chị H.

[3] Đại diện của Viện kiểm sát phát biểu về tố tụng và quan điểm việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến kết thúc phần tranh luận chuyển vào nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không tham gia tố tụng là vi phạm về nghĩa vụ.

Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 117, Điều 122, Điều 131; Khoản 2 Điều 212, 299, 303, 357, 463, 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 99, 100, 103 và 107 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024. Điều 12 của Luật Ngân hàng N. Điều 13, 18, 20, 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng (khoản 4, Điều 18 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 06/2023/TT-NHNN ngày 28/6/2023). Điều 7, 8, 10 và 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Khoản 1 Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần M1 (Jupiter);

Buộc anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H phải trả cho Công ty Cổ phần M1 (Jupiter) theo Hợp đồng cho vay số LN1807160802451 ngày 18/07/2018 số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 05/5/2026 là 340.724.141đ (trong đó nợ gốc là 128.776.959đ, nợ lãi 211.947.182đ).

Buộc anh Vi Văn M phải trả cho Công ty Cổ phần M1 (Jupiter) theo Hợp đồng cho vay số LD1928400408 ngày 11/10/2019 số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 05/5/2026 là 100.968.462đ (trong đó nợ gốc là 36.000.000đ, nợ lãi là 64.968.462đ).

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày xét xử sơ thẩm anh Vi Văn M và chị Hoàng Thị H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất anh M, chị H phải tiếp tục thanh toán cho Công ty M1 cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Về tài sản bảo đảm: Trường hợp anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với Hợp đồng cho vay số LN1807160802451, thì Công ty Cổ phần M1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI GRAND 1.1 MT, biển kiểm soát 98C-18924 thuộc quyền sở hữu của anh M, chị H để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.

Về án phí và chi phí t tụng: Anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H phải chịu án phí DSST và chi phí tố tụng theo quy định. Hoàn trả Công ty M1 số tiền đã tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Đây là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cho vay giữa Ngân hàng TMCP V (V2) với anh Vi Văn M và chị Hoàng Thị H, sau đó khoản nợ được chuyển giao hợp pháp cho Công ty Cổ phần M1 theo Hợp đồng mua bán nợ ngày 27/12/2024. Do đó, Công ty M1 có quyền khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Bắc Ninh.

Về t tụng:

Nguyên đơn là Công ty Cổ phần M1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh M, chị H vắng mặt không có lý do, đây là phiên tòa lần thứ hai, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tranh chấp Hợp đồng tín dụng ký kết giữa Ngân hàng TMCP V với anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H áp dụng Luật tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết vụ án.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn giao nộp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện: Hợp đồng cho vay số LN1807160802451 ngày 18/7/2018 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP V (V2) với anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H. Hợp đồng cho vay số LD1928400408 ngày 11/10/2019 được anh Vi Văn M vay vốn tại V2 trên kênh V2 qua số Gmail và số điện thoại của anh M. Hợp đồng Mua bán nợ số 15/2024/VPB-JUPITER ngày 27/12/2024 và Phụ lục đính kèm giữa Ngân hàng TMCP V (V2) với Công Ty Cổ Phần M1 của khách hàng vay là anh Vi Văn M và chị Hoàng Thị H; Hợp đồng thế chấp tài sản; Căn cước công dân của anh M, chị H; đăng ký xe ô tô; đăng ký kinh doanh.

Tài liệu, chứng cứ bị đơn giao nộp: Không có.

Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự thì nghĩa vụ chứng minh: “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án, tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp”.

Xét các Hợp đồng cho vay số LN1807160802451 ngày 18/7/2018 giữa Ngân hàng TMCP V (V2) với anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H; Hợp đồng cho vay số LD1928400408 ngày 11/10/2019 giữa Ngân hàng TMCP V (V2) với anh Vi Văn M, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bên tham gia giao kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; việc ký kết hoàn toàn tự nguyện; nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức hợp đồng phù hợp với quy định pháp luật. Vì vậy, các hợp đồng tín dụng nêu trên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ ràng buộc đối với các bên.

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện anh M và chị H đã nhận đủ số tiền vay theo các hợp đồng đã ký. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh M, chị H mới thanh toán Hợp đồng cho vay số LN1807160802451 ngày 18/07/2018 được số tiền gốc 51.223.041đ, trả lãi 28.486.437đ; tổng cộng gốc, lãi là 79.709.478 đồng. Hợp đồng cho vay số LD1928400408 ngày 11/10/2019 anh M chưa trả được đồng nào. Anh M, chị H đã không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, dẫn đến các khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn trong thời gian dài. Anh M, chị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng, làm phát sinh trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn theo thỏa thuận.

Căn cứ Hợp đồng mua bán nợ số 15/2024/VPB-JUPITER ngày 27/12/2024 và các tài liệu kèm theo, có cơ sở xác định Ngân hàng TMCP V đã chuyển nhượng toàn bộ khoản nợ của anh M và chị H cho Công ty Cổ phần M1. Việc chuyển giao quyền yêu cầu này phù hợp với quy định của pháp luật dân sự, không làm thay đổi nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Do đó, Công ty M1 có đầy đủ quyền, tư cách pháp lý để kế thừa quyền yêu cầu thanh toán khoản nợ đối với bị đơn.

Xét thấy yêu cầu này phù hợp với các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, cũng như phù hợp với các quy định pháp luật về nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Bị đơn không tham gia tố tụng, không có ý kiến phản đối, không cung cấp chứng cứ chứng minh đã hoàn thành hoặc đã thanh toán thêm nghĩa vụ, nên phải chịu hậu quả pháp lý của việc không chứng minh. Căn cứ bảng kê chi tiết dư nợ và các tài liệu do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử xác định tính đến ngày 05/5/2026, anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H còn nợ tổng số tiền gốc + lãi đối với hai hợp đồng vay nợ và khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán toàn bộ khoản nợ là có căn cứ.

Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần M1: Buộc anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H phải trả cho Công ty Cổ phần M1 (Jupiter) theo Hợp đồng cho vay số LN1807160802451 ngày 18/07/2018 tính đến ngày 05/5/2026, số tiền nợ gốc là 128.776.959đ, nợ lãi 211.947.182đ; cộng tiền gốc và tiền lãi là 340.724.141đ.

Buộc anh Vi Văn M phải trả cho Công ty Cổ phần M1 (Jupiter) theo Hợp đồng cho vay số LD1928400408 ngày 11/10/2019 tính đến ngày 05/5/2026, tiền nợ gốc là 36.000.000đ, nợ lãi là 64.968.462đ; cộng tiền gốc và lãi là 100.968.462đ.

Về tài sản bảo đảm cho khoản vay: Hợp đồng cho vay số LN1807160802451 anh M, chị H đã thế chấp 01 xe ô tô, nhãn hiệu HYUNDAI GRAND 1.1 MT, số khung 51AÀM157863, số máy G3LAEM192565, BKS: 98C-18924 do Phòng C công an tỉnh B cấp, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của Vi Văn M, chị Hoàng Thị H. Trường hợp anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty Cổ phần M1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI GRAND 1.1 MT, biển kiểm soát 98C-18924 thuộc quyền sở hữu của anh M, chị H để thu hồi nợ của Hợp đồng cho vay số LN1807160802451 theo quy định pháp luật.

Về tiền lãi chậm trả: Kể từ ngày ngày xét xử sơ thẩm anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất anh M, chị H phải tiếp tục thanh toán cho Công ty M1 theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Về án phí và chi phí t tụng:

Về án phí: Do yêu cầu của Công ty cổ phần M1 được chấp nhận nên anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Hoàn trả cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Về chi phí tố tụng: Anh Vi Văn M và chị Hoàng Thị H phải chịu 800.000đ; số tiền 800.000đ anh M, chị H nộp trả cho Công ty Cổ phần M1 (do Công ty Cổ phần M1 đã nộp tạm ứng).

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát đưa ra quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên :

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 117, Điều 122, Điều 131; Khoản 2 Điều 212, 299, 303, 357, 463, 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 99, 100, 103 và 107 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024. Điều 12 của Luật Ngân hàng N. Điều 13, 18, 20, 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng (khoản 4, Điều 18 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 06/2023/TT-NHNN ngày 28/6/2023). Điều 7, 8, 10 và 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Khoản 2 Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần M1 (Jupiter);

Buộc anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H phải trả cho Công ty Cổ phần M1 (Jupiter) theo Hợp đồng cho vay số LN1807160802451 ngày 18/07/2018 tính đến ngày 05/5/2026, số tiền nợ gốc là 128.776.959đ, nợ lãi 211.947.182đ; tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 340.724.141đ (Ba trăm bốn mươi triệu, bẩy trăm hai mươi tư nghìn, một trăm bốn mốt đồng).

Buộc anh Vi Văn M phải trả cho Công ty Cổ phần M1 (Jupiter) theo Hợp đồng cho vay số LD1928400408 ngày 11/10/2019 tính đến ngày 05/5/2026, tiền nợ gốc là 36.000.000đ, nợ lãi là 64.968.462đ; tổng cộng tiền gốc và lãi là 100.968.462đ (Một trăm triệu, chín trăm sáu mươi tám nghìn, bốn trăm sáu hai đồng).

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày xét xử sơ thẩm anh Vi Văn M và chị Hoàng Thị H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất anh M và chị H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

[2] Về tài sản bảo đảm: Trường hợp anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cho vay số LN1807160802451, thì Công ty Cổ phần M1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI GRAND 1.1 MT, biển kiểm soát 98C-18924 thuộc quyền sở hữu của anh M. Chị H để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.

[3] Về án phí và chi phí tố tụng:

Về án phí: Anh Vi Văn M phải chịu 13.566.000đ (Mười ba triệu, năm trăm sáu mươi sáu nghìn đồng chẵn) án phí dân sự sơ thẩm; chị Hoàng Thị H phải chịu 8.518.000đ (Tám triệu, năm trăm mười tám nghìn đồng chẵn) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Công ty Cổ phần M1 (M1) số tiền 8.246.000đ (tám triệu hai trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, theo biên lai số 0003925 ngày 25/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

Về chi phí tố tụng: Anh Vi Văn M, chị Hoàng Thị H phải chịu 800.000đ; số tiền 800.000đ anh M, chị H nộp trả cho Công ty Cổ phần M1 (M1).

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ