- Tranh chấp gì? "Quàng Văn T k1 đ249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 15 (mười lăm) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TßA ¸N nh©n d©n THÀNH PHỐ SƠN LA tØnh S¬n la | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 29/2020/HS-ST Ngµy: 29-4-2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Hương;
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Minh; Lù Văn Quý;
- Thư ký phiên toà: Ông Cầm Việt Hùng, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mai Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2020/TLST-HS ngày 26/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/HSST-QĐ ngày 20/4/2020 đối với bị cáo:
Quàng Văn T(tên gọi khác: không); Sinh ngày 20 tháng 12 năm 1975 tại Sơn La; Nơi cư trú: Bản Bôm Huốt, xã C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 0/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quàng Văn Hặc (đã chết); Con bà: Lèo Thị Pụa (đã chết); Bị cáo có vợ là Quàng Thị Ban và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi liên quan: Bà Quàng Thị Ban, Nơi cư trú: Bản Bôm Huốt, xã C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18 tháng 12 năm 2019 Quàng Văn T điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu HONDAWave& màu đỏ đen BKS 26B1 -118.15 của gia đình đi từ nhà ở bản Bôm Huốt, xã C, thành phố Sơn La đến khu vực bản Chậu Cọ, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây T gặp và mua được của một người nam giới không biết tên, tuổi và địa chỉ 01 gói ma túy bên trong có 01 viên nén màu hồng (Toàn khai là Hồng phiến) và 01 gói ma túy bên trong có chứa cục bột màu trắng (Toàn khai là Heroin) cả hai loại với giá 200.000,đ (hai trăm nghìn đồng), T cất 02 gói ma túy vừa mua được vào túi quần bên trái phía sau đang mặc, rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an thành phố Sơn La phát hiện, lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Cơ quan Công an thành phố Sơn La thu giữ được vật chứng gồm: 01 gói giấy nilon màu hồng bên trong có chứa cục 01 viên nén hình tròn màu hồng (theo lời khai của T là Hồng phiến); 01 gói giấy nilon màu hồng bên trong có chứa bột cục màu trắng (theo lời khai của T là Heroin), ngoài ra còn tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar đã sử dụng cũ; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave & màu đỏ đen BKS 26B1-118.15 đã qua sử dụng.
Ngày 18/12/2019, Công an thành phố Sơn La tiến hành cân tịnh vật chứng, kết quả 01 viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,09 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu T1, số cục bột màu trắng trong gói giấy nilon màu hồng thứ hai có khối lượng 0,19 gam, trích rút 0,09 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu T2, còn lại 0,1 gam lưu kho vật chứng ký hiệu T3.
Tại Kết luận giám định số 48/KLMT ngày 20/12/2019 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma túy, loại chất Methamphetamine; mẫu gửi giám định ký hiệu T2 là ma túy, loại chất Heroin”.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ của Quàng Văn T là 0,28 gam. Không hoàn lại mẫu vật gửi giám định.
Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKSTP ngày 26 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Quàng Văn T về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Quàng Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 18/12/2019).
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự do bị cáo là người mắc nghiện ma túy, thu nhập thấp, gia đình bị cáo không có tài sản gì có giá trị, bị cáo không có tài sản riêng.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Heroin đang lưu kho vật chứng ký hiệu T3; Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar đã qua sử dụng đề nghị trả cho bị cáo do không liên quan trong vụ án; Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDAWave& màu đỏ đen BKS 26B1-118.15 đã qua sử dụng, xác định là tài sản duy nhất của gia đình, bị cáo mang đi mua ma túy mà vợ bị cáo không biết, do không liên quan trong vụ án, cần trả cho vợ bị cáo là Quàng Thị Ban.
Bị cáo phải nộp 200.000,đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Ý kiến của bị cáo nhất trí như Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo tại phiên toà. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào Nghị án, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất trong khung hình phạt để sớm được trở về với gia đình, cộng đồng và làm ăn lương thiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Vào ngày 18/12/2019, Quàng Văn T đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,09 gam Methamphetamine và 0,19 gam Heroin, mục đích sử dụng cho bản thân, thì bị tổ công tác Công an thành phố Sơn La kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Quàng Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, như Quyết định truy tố và quan điểm luận tội tại phiên tòa của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:
1. “Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm ”:
a)…………
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
………..
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đươmg với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Quàng Văn T với số lượng tàng trữ ma túy 0,09 gam Methamphetamine và 0,19 gam Heroin là không lớn, mục đích tàng trữ ma tuý là để sử dụng cho bản thân, do bị cáo là người đang bị mắc nghiện ma túy. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng do cố ý. Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm phát sinh, lây lan các tệ nạn xã hội. Hành vi đó là nguy hiểm, gây mất trật tự an ninh và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo đã được giáo dục, biết rõ tác hại của ma tuý đối với đời sống con người và xã hội, song vẫn cố tình phạm tội, nên cần áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 để xem xét, quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
Xét nhân thân bị cáo Quàng Văn T không có tiền án, không có tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện, có ích cho xã hội, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung, nhất là công tác phòng, chống tội phạm ma tuý trong giai đoạn hiện nay.
Bị cáo đang bị tạm giam, nay Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Ngoài hình phạt chính là phạt tù, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Song, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tài sản, không có thu nhập, là người nghiện ma tuý, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với nguồn gốc 0,09 gam Methamphetamine và 0,19 gam Heroin, bị cáo khai nhận do bị cáo mua của người không biết tuổi và địa chỉ nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Về vật chứng vụ án: Xét cần tuyên tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Heroin đã lưu kho vật chứng ký hiệu T3; Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar đã sử dụng cũ cần trả cho bị cáo do không liên quan trong vụ án; Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDAWave& màu đỏ đen BKS 26B1-118.15 đã qua sử dụng, là tài sản duy nhất của gia đình, bị cáo mang đi mua ma túy để sử dụng mà vợ bị cáo không biết, do không liên quan trong vụ án, cần trả cho vợ bị cáo là Quàng Thị Ban, là phù hợp với điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
1. Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 18/12/2019).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 03 mảnh nilon màu hồng; 0,1 gam Heroin đang lưu kho vật chứng ký hiệu T3; Trả bị cáo Quàng Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar đã qua sử dụng; Trả chị Quàng Thị Ban trú tại bản Bôm Huốt, xã Chiềng Cọ, thành phố Sơn La 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDAWave& màu đỏ đen BKS 26B1-118.15 đã qua sử dụng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2019 giữa Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc bị cáo Quàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000,đ (hai trăm ngàn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Quàng Văn T, người liên quan Quàng Thị Ban có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát (2 bản);
- CA thành phố;
(Đã ký và đóng dấu)
- Trại giam;
- Bị cáo;
- Người có QLNVLQ;
- THA phạt tù;
- THADS thành phố;
- Sở Tư pháp;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
Đặng Thị Hương THÀNH VIÊN HĐXX
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Hƣơng Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát (2 bản);
- CA thành phố;
- Trại giam;
- Bị cáo;
- THA phạt tù;
- THADS thành phố;
- Sở Tư pháp;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
Đặng Thị Hương THÀNH VIÊN HĐXX
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Hƣơng Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát (2 bản);
- CA thành phố;
- Trại giam;
- Bị cáo;
- THA phạt tù;
- THADS thành phố;
- Sở Tư pháp;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
Đặng Thị Hương THÀNH VIÊN HĐXX
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Hƣơng Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát (2 bản);
- CA thành phố;
- Trại giam;
- Bị cáo;
- THA phạt tù;
- THADS thành phố;
- Sở Tư pháp;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
Đặng Thị Hương THÀNH VIÊN HĐXX
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Hương Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát (2 bản);
- CA thành phố;
- Trại giam;
- Bị cáo;
- THA phạt tù;
- THADS thành phố;
- Sở Tư pháp;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
Đặng Thị Hương THÀNH VIÊN HĐXX
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Hương Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát (2 bản);
- CA thành phố;
- Trại giam;
- Bị cáo;
- THA phạt tù;
- THADS thành phố;
- Sở Tư pháp;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
Đặng Thị Hương THÀNH VIÊN HĐXX
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Hương Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát (2 bản);
- CA thành phố;
- Trại giam;
- Bị cáo;
- THA phạt tù;
- THADS thành phố;
- Sở Tư pháp;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
Đặng Thị Hương THÀNH VIÊN HĐXX
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Hương Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát (2 bản);
- CA thành phố;
- Trại giam;
- Bị cáo;
- THA phạt tù;
- THADS thành phố;
- Sở Tư pháp;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
Đặng Thị Hương THÀNH VIÊN HĐXX
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Hương
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - Viện kiểm sát (2 bản); - CA thành phố; - Trại giam; - Bị cáo; - THA phạt tù; - THADS thành phố; - Sở Tư pháp; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. THÀNH VIÊN HĐXX THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Hương Đặng Thị Hương |