vanban.org

Bản án 29/QĐTTLH — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thanh Th và ông Trần Thanh H.

Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Anh H, sinh ngày 11/09/2002 và Trần Ánh M, sinh ngày 07/3/2009 cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng, bà Th không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thanh Th- Trần Thanh H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thanh Th và ông Trần Thanh H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Số: 29/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 26-6-2019
V/v: Ly hôn giữa bà Th và ông H

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Xuân Tỵ.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Huế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 26 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 413/2018/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2018, về tranh chấp "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2019/QĐXXST – HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh Th, sinh năm: 1983.

Địa chỉ: Số nhà 52/40 đường Lữ G, xã Lộc Ch, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

Nơi cư trú hiện nay: Số 1435 Quốc lộ 20, xã Lộc Ch, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Ông Trần Thanh H, sinh năm: 1964.

Địa chỉ: Số nhà 52/40 đường Lữ Gia, xã Lộc Ch, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

(Tại phiên tòa bà Th có mặt; ông H vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/11/2018, các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Thanh H có đăng ký kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Ch, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 19/03/2002. Trước khi kết hôn bà và ông H có thời gian tìm hiểu 06 tháng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông H thường xuyên uống rượu, say xỉn, chửi mắng vợ con nên vợ chồng luôn xảy ra bất hòa, cãi vã. Ông H sống không có trách nhiệm với gia đình vợ con. Do vợ chồng mâu thuẫn nên từ tháng 11 năm 2018 bà đã đưa 02 con ra ngoài sống riêng. Từ khi bà và các con ra ngoài sống riêng thì ông H cũng không quan tâm, không chu cấp tiền để nuôi các con và cũng không đến thăm con. Bà và ông H không còn liên lạc hay quan tâm gì đến nhau, hạnh phúc vợ chồng không thể hàn gắn được nữa. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông H, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Anh H, sinh ngày 11/09/2002; Trần Ánh M, sinh ngày 07/3/2009. Hiện nay 02 con đang sống với bà Th. Khi ly hôn bà Th yêu cầu được nuôi 02 con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà Th và ông H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Th khai không có.

Các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Thanh H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Thanh Th chung sống và đăng ký kết hôn như bà Th trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống vẫn hạnh phúc bình thường cho đến cuối năm 2018 thì mới phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bà Th tự ý bán xe ô tô mà không trao đổi với ông vì vậy vợ chồng cãi vã, xích mích. Bà Th đòi ly hôn và chuyển ra ngoài sinh sống từ đó đến nay, vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm gì đến nhau. Hiện nay ông vẫn còn tình cảm với bà Th nhưng do bà Th tự ý bỏ đi thì bà Th tự về chứ ông không liên lạc hay bảo bà Th quay về. Nay bà Th yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Anh H, sinh ngày 11/09/2002; Trần Ánh M, sinh ngày 07/3/2009. Hiện nay 02 con chung đang sống với bà Th. Trường hợp Tòa án cho ly hôn thì ông đồng ý giao 02 con cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông và bà Th tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông H khai không có.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự qui định.

Về giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh Th đối với ông Trần Thanh H; về con chung: giao con chung Trần Anh H và Trần Ánh M cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng, bà Th không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung: Bà Th và ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; về tài sản chung: ông H và bà Th tự thỏa thuận; về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét; về án phí: Bà Th phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Thanh H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án theo qui định pháp luật.

. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thanh Th và ông Trần Thanh H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống bà Th và ông H có mâu thuẫn do ông H thường xuyên say xỉn, sống không có trách nhiệm với vợ con dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Tại phiên tòa bà Th vẫn kiên quyết xin được ly hôn với ông H vì không còn tình cảm gì với ông H. Qua xác minh tại chính quyền địa phương, người thân cho thấy vợ chồng bà Th ông H sống không hạnh phúc, từ cuối năm 2018 cho đến nay bà Th và ông H đã sống mỗi người một nơi không còn quan tâm, chăm sóc gì nhau. Phía ông H cho rằng vẫn còn tình cảm với bà Th nhưng từ khi bà Th đưa các con ra ngoài sinh sống thì ông H cũng không liên lạc hay gọi bà Th quay về. Như vậy, tình trạng hôn nhân của bà Th và ông H đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Th là có căn cứ.

. Về con chung: Xem xét yêu cầu nuôi 02 con chung của bà Th thấy rằng bà Th có công việc và thu nhập ổn định, phía ông H cũng đồng ý giao 02 con chung cho bà Th nuôi. Xét nguyện vọng các con của ông H, bà Th cũng mong muốn được sống với mẹ nên giao con Trần Anh H, sinh ngày 11/09/2002 và Trần Ánh M, sinh ngày 07/3/2009 cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, bà Th không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên không giải quyết.

. Về tài sản chung: Ông H và bà Th tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về nợ chung: Ông H và bà Th đều khai không có, trong quá trình giải quyết vụ án không có ai tranh chấp gì nên không xem xét giải quyết.

. Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

. Về án phí: Bà Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 56, 81,82,83,84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thanh Th và ông Trần Thanh H.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Anh H, sinh ngày 11/09/2002 và Trần Ánh M, sinh ngày 07/3/2009 cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng, bà Th không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về tài sản chung: Ông H và bà Th tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

4. Về nợ chung: Ông H và bà Th đều khai không có.

5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số AA/2016/0002721 ngày 06/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B. Bà Th đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án phúc thẩm giải quyết. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ