- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị bảo Tr-Trần Vũ B"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị B Tr và anh Trần Vũ B.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 29/2022/HNGĐ-ST Ngày: 10-5-2022 V/v: Ly hôn giữa chị Tr và anh B. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Xuân Tỵ.
2. Ông Cầm Văn Nam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 10 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 289/2021/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2021, về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXX-ST ngày 31 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị B Tr, sinh năm 1995
Địa chỉ: Số nhà 1800 quốc lộ 20, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
2. Bị đơn: Anh Trần Vũ B, sinh năm 1988
Địa chỉ: Số nhà 1483 quốc lộ 20, thôn 3, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
(Tại phiên tòa chị Tr có mặt, anh B vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2021, các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị B Tr trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Vũ B tự nguyện đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Đại Lào, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 04/10/2018. Đến tháng 01/2019 thì hai bên tổ chức lễ cưới truyền thống. Sau khi tổ chức đám cưới xong chị Tr về sống chung với gia đình anh B tại thôn 3, xã Đại Lào, thành phố B. Quá trình chung sống được gần 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh B không chăm lo làm ăn, ham chơi đá gà, kinh tế sống phụ thuộc gia đình chồng nên vợ chồng không có kinh tế riêng. Anh B nghe lời bố mẹ không quan tâm chăm sóc gì đến chị do đó tình cảm vợ chồng lạnh nhạt. Khi chị có thai thì về nhà bố mẹ ruột sinh sống, anh B có đến sống chung được một thời gian thì vợ chồng tiếp tục cãi vã, xích mích về chuyện tiền bạc, anh B không lo làm ăn nên tất cả chi phí trong gia đình là do bố mẹ chị lo hết. Vợ chồng bất hòa, cãi vã, anh B thường xuyên chửi mắng chị. Vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên đến cuối năm 2019 anh B đã mang đồ đạc bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ đó cho đến nay, anh B không quan tâm và cũng không đến thăm con lần nào. Nay chị thấy tình cảm giữa chị và anh B không thể hàn gắn được, chị đề nghị Tòa án cho được ly hôn với anh B.
Về con chung: Chị và anh B có 01 con chung tên Trần Anh V, sinh ngày 10/10/2019. Hiện nay cháu đang sống với chị và ông bà ngoại. Khi ly hôn chị xin được nuôi con vì cháu còn nhỏ và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị khai vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Chị khai vợ chồng không có nợ chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh B đến để giải quyết nhưng anh B vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghỉ nghị án thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự qui định.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Tr; về con chung: giao 01 con chung cho chị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị Tr không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét; về tài sản chung, nợ chung chị Tr khai không có nên không xem xét; về án phí: buộc chị Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
1.1. Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Trần Thị B Tr khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Trần Vũ B có nơi cư trú tại số 1483 Quốc lộ 20, xã Đại Lào, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
1.2. Về sự có mặt của đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn là anh Trần Vũ B đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án theo qui định pháp luật.
. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Trần Thị B Tr và anh Trần Vũ B được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về tính cách, lối sống, kinh tế khó khăn nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, không có sự tôn trọng lẫn nhau. Qua xác minh tại chính quyền địa phương, người thân cho thấy vợ chồng chị Tr, anh B hay xảy ra lục đục, cãi vã do mâu thuẫn về chuyện tiền bạc kinh tế, anh B và chị Tr đã sống mỗi người mỗi nơi không còn quan tâm gì đến nhau.
Tại phiên tòa chị Tr cương quyết đề nghị Tòa án cho ly hôn với anh B vì chị không còn tình cảm gì với anh B nữa. Như vậy, tình trạng hôn nhân của chị Tr với anh B đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tr là có căn cứ.
. Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con chung của chị Tr thấy rằng từ khi chị và anh B không chung sống với nhau thì con chung là cháu Trần Anh V, sinh ngày 10/10/2019 do chị Tr chăm sóc khỏe mạnh, phát triển bình thường. Căn cứ khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con nên giao con chung Trần Anh V, sinh ngày 10/10/2019 cho chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị Tr không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về tài sản chung: Chị Tr khai không có nên không xem xét.
. Về nợ chung: Chị Tr khai không có, trong quá trình giải quyết vụ án không có ai tranh chấp gì nên không xem xét.
. Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
. Về án phí: Chị Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị B Tr và anh Trần Vũ B.
2. Về nuôi con chung: Giao 01 con chung tên Trần Anh V, sinh ngày 10/10/2019 cho chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chị Tr không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về tài sản chung: Chị Tr khai không có.
4. Về nợ chung: Chị Tr khai không có.
5. Về án phí: Chị Trần Thị B Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004597 ngày 15/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B. Chị Tr đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án phúc thẩm giải quyết. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: + Các đương sự; + VKSND thành phố B; + T.H.A thành phố B; + TAND tỉnh Lâm Đồng; + UBND xã Đại Lào, thành phố B; + Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiền |