vanban.org

Bản án 29/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với: Nguyễn Trọng T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: Thôn D, xã T, tỉnh Đắk Lắk.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở điều trị cai nghiện bắt buộc (ngày 23/6/2026). Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào có sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với: Nguyễn Trọng T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: Thôn D, xã T, tỉnh Đắk Lắk.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Quyết định số 163/2026/QĐ-UBND Quy định tiêu chí dự án phát…; Điều 106 Quyết định số 163/2026/QĐ-UBND Quy định tiêu chí dự án phát…; Điều 18 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - ĐẮK LẮK
Số:29/2026/QĐ-TA.
Đắk Lắk, ngày 24 tháng 7 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐẮK LẮK.

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Bà Võ Thị Mai.

2. Thư ký phiên họp: Ông Hồ Quốc Nam - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7

- Đắk Lắk.

Ngày 24 tháng 7 năm 2026, tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1, tỉnh Đắk Lắk tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 30/2026/QĐ – TA, ngày 20 tháng 7 năm 2026 đối với Nguyễn Trọng T, sinh ngày: 01/8/1981, tại tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Căn cước công dân số: 03608102291; cấp ngày 14/5/2023; Nơi cư trú: Thôn F (trước đây là thôn A) , xã E, tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp ổn định; Tiền sự: Không; Tiền án: có 01 tiền án, ngày 12/6/2017 bị Tòa án nhân dân huyện K (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7), xử phạt 02 năm 06 tháng từ về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, đã chấp hành xong phần trách nhiệm hình sự nhưng phần trách nhiệm dân sự T chưa chấp hành xong theo Bản án số 32/2017/HSST ngày 12/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar.

Con ông Nguyễn Huy T1 và bà Lê Thị T2.

Nhân thân: Đối tượng Nguyễn Trọng T có nhân thân xấu, đã 04 lần bị kết án và đã bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc tại Trung tâm giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Đ, với thời gian là 24 tháng theo Quyết định số 696/QĐ-UBND ngày 02/7/2009 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk, đến ngày 20/01/2012 chấp hành xong quyết định áp dụng.

Đối tượng Nguyễn Trọng T có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Cơ quan đề nghị: Công An xã E, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Chí H. Chức vụ: Trưởng Công xã E, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Xuân T3. Chức vụ: Cán bộ tổ CSKV Công xã E, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk tham gia phiên họp: Ông Cao Văn Tiến – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Đối tượng Nguyễn Trọng T là người nghiện và bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2003, loại ma túy mà Nguyễn Trọng T sử dụng là ma túy đá và ngày 02/7/2009 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc với thời gian là 24 tháng tại Trung tâm giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Đ, đến ngày 23/6/2026 Nguyễn Trọng T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã E phát hiện, lập biên bản vi phạm về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Nguyễn Trọng T, hình thức T sử dụng là hút. Theo kết quả xét nghiệm tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế E ngày 23/6/2026 xác định: Nguyễn Trọng T nghiện ma túy loại Methamphetamine. Ngày 23/6/2026 Công an xã E đã thông báo về việc đăng ký cai nghiện tại gia đình, cộng đồng cho Nguyễn Trọng T nhưng Nguyễn Trọng T từ chối, không có đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng là vi phạm điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 54 Luật phòng chống ma túy năm 2025.

Tại phiên họp, đối tượng Nguyễn Trọng T trình bày: Quá trình Công an xã E lập hồ sơ thì T đã được thông báo và đã được đọc các tài liệu có trong hồ sơ và thừa nhận toàn bộ vi phạm của mình, không có ý kiến bổ sung gì thêm.

Tại văn đề nghị số 22/ĐN-CNBB ngày 06/7/2026, cũng như tại phiên họp, ý kiến đại diện Công an xã E: Giữ nguyên quan điểm áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng T, Nguyễn Trọng T từ chối và không có đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng là vi phạm điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 54 Luật phòng chống ma túy năm 2025. Vì vậy đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng T, với thời hạn là 36 (ba mươi sáu) tháng.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk: Về trình tự, thủ tục phiên họp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc của Thẩm phán, Thư ký đảm bảo theo quy định của pháp luật. Xét hồ sơ đề nghị của Công an xã E về trình tự thủ tục, điều kiện áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng T là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Do đó, các Điều 3, 8, 9, 12, 13, 15 và Điều 17 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15; các Điều 6, 95, 101,103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 29, 35, 54, 55 và 56 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025; Điều 101 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ; Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT–BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/3/2025 của Công an– Viện kiểm sát nhân dân cao – Tòa án nhân dân cao. Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk giải quyết theo hướng: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng T, với thời hạn là 36 (ba mươi sáu) tháng.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến tranh luận của quan đề nghị.

XÉT THẤY:

Về thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan đề nghị là Công an xã E, tỉnh Đắk Lắk nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/U111BTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Điều 8 tư liên tịch số 03/2025/TTLT –BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ Công an – Viện kiểm sát nhân dân cao – Tòa án nhân dân cao.

Về thời hiệu: Ngày 23/6/2026, Công an xã E phát hiện hành vi vi phạm của Nguyễn Trọng T. Ngày 07/7/2026, Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk thụ lý hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng Nguyễn Trọng T đưa đi cai nghiện bắt buộc là còn thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật lý vi phạm hành chính.

Về tính hợp pháp của của hồ sơ đề nghị: Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng T đã được Công an xã E tiến hành đúng trình tự, thủ tục và đã có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng T. Căn cứ vào biên bản vi phạm hành ngày 23/6/2026 của Công an xã E, kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý số 30/XĐTNN, ngày 23/6/2026 của Trung tâm Y tế E; căn cứ vào bản tường trình ngày 23/6/2026 và kết quả tranh luận tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện quan đề nghị và ý kiến của Viện kiểm sát đã có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Trọng T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2003 và bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk đưa đi đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc tại Trung tâm giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Đ với thời gian là 24 tháng, đến ngày 23/6/2026 Nguyễn Trọng T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và T từ chối không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại sở cai nghiện ma túy lập trong thời gian quy định của pháp luật. Do đó, Nguyễn Trọng T là đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Luật , chống ma túy năm 2025;

- Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi vi phạm Nguyễn Trọng T đã tự nguyện khai báo, thành khẩn hối lỗi được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 29, 30, 31, 35, 54, 55 và 56 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2025; khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, Điều 96, khoản 2 Điều 104, Điều 110 của Luật lý vi phạm hành chính; Điều 101, 106 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ; các Điều 3, 8,18, 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban vụ Quốc hội và Điều 8 tư liên tịch số 03/2025/TTLT– BCA-VKSNDTC - TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ A – Viện kiểm sát nhân dân cao – Tòa án nhân dân cao.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với: Nguyễn Trọng T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: Thôn D, xã T, tỉnh Đắk Lắk.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở điều trị cai nghiện bắt buộc (ngày 23/6/2026).

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:

- Người bị áp dụng đối tượng Nguyễn Trọng T có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

- Cơ quan đề nghị Công an xã E, tỉnh Đắk Lắk có quyền kiến nghị quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã E, tỉnh Đắk Lắk; Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đắk Lắk.

Cỡ chữ