vanban.org

Bản án 29/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 04/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Huỳnh Quí T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Quí T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Quí T - lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Huỳnh Quí T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9-TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2026/HS-ST
Ngày 04-5-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-TÂY NINH - TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Yến Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đức Hảo

Ông Nguyễn Văn Lạc

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9-Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Vũ Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9-Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2026/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2026/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:

Huỳnh Quí T, sinh ngày 16/01/2003 tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Ấp R, xã V, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 02/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Huỳnh Thanh H, sinh năm 1968 (đã chết) và bà: Huỳnh Thị N, sinh năm 1975. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: 01. Ngày 03/8/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9-Tây Ninh) xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án số 20/2023/HS-ST, chấp hành án xong ngày 07/01/2024.

Tiền sự: 03.

Ngày 20/11/2024, bị Công an xã T, huyện V, tỉnh Long An xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 128/QĐ-XPHC.

Ngày 22/08/2025, bị Công an xã V, tỉnh Tây Ninh xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng rượu, bia, các chất kích thích khác gây rối trật tự công cộng, theo quyết định số 34/QĐ-XPHC. Bị cáo đã nộp phạt ngày 07/10/2025.

Ngày 22/8/2025, bị Công an xã V, tỉnh Tây Ninh xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 39/QĐ-XPHC. Bị cáo đã nộp phạt ngày 03/9/2025.

Về nhân thân: Ngày 29/12/2022, bị Công an xã V, huyện V, tỉnh Long An xử phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý theo quyết định số 33/QĐ- XPHC.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/3/2026 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T thuộc Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh T. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Quí T có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. T thuê phòng trọ tại ấp B, xã V, tỉnh Tây Ninh của ông Lê Quang Đ. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 28/11/2025, T mượn xe máy của anh Trần Trung T1 (là người đang thuê phòng trọ ở kế bên) để đi mua đồ ăn. T1 đồng ý và dắt chiếc xe máy nhãn hiệu GALAXY, biển số 62R1-1854 đưa cho T mượn. T điều khiển xe đến chợ B mua bánh canh mang tới nhà dì ruột tên Huỳnh Thị Diễm E, thuộc Ấp D, xã V. Sau khi ăn bánh canh xong, T chạy xe đến ấp X, xã V tìm người bạn tên H rủ đi chơi, nhưng không gặp H. T nghĩ là anh T1 đã ngủ nên điều khiển xe chạy đến nhà bà ngoại của T là bà Đinh Thị N1, sinh năm 1956 ở ấp R, xã V nằm võng phía trước nhà ngủ. Đến khoảng 04 giờ sáng ngày 29/11/2025, T thức dậy và cần tiền tiêu xài cá nhân nên nảy sinh ý định mang xe của anh T1 đem đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. T điều khiển xe máy biển số 62R1-1854 đến xã B và cầm chiếc xe cho người tên K (không rõ lai lịch) lấy số tiền 1.500.000 đồng rồi đón xe đi đến phường D, TP . nhằm lẫn tránh việc trả lại xe cho anh T1. Đến ngày 18/01/2026, anh T1 đến Công an xã V, tỉnh Tây Ninh tố giác hành vi phạm tội của T. Công an xã V đã mời T làm việc và T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 428/KL-HĐĐGTS ngày 06 tháng 3 năm 2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã V đã kết luận: xe máy nhãn hiệu: GALAXY, số loại: SM4, màu sơn: Đỏ Đen, biển số 62R1-1854, số máy: SM3BH-006598, số khung: 1BH8H-006598 đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 28/11/2025 có giá trị 3.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 05A/CT-VKSKV9 ngày 13/4/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Tây Ninh đã quyết định truy tố bị cáo Huỳnh Quí T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, Điều 32, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Quí T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam. Căn cứ vào Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tiếp tục tạm giam bị cáo Huỳnh Quí T 45 (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án (04/5/2026) để đảm bảo công tác thi hành án. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Huỳnh Quí T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Đề nghị không áp dụng bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.

Về vật chứng: Không thu hồi được nên không đề nghị xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại 4.000.000 đồng xong và bị hại không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Đối với người tên K bị cáo khai là người đã cầm xe nhưng không xác minh được họ, tên, địa chỉ nên không có cơ sở điều tra, xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ thái độ ăn năn hối cải, bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung Cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai trước Cơ quan Cảnh sát điều tra tỉnh Tây Ninh, đúng với nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Tây Ninh đã truy tố bị cáo, đồng thời phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 28/11/2025, tại nhà trọ của ông Lê Quang Đ ở ấp B, xã V, tỉnh Tây Ninh, Huỳnh Quí T mượn của anh Trần Trung T1 01 xe máy nhãn hiệu: GALAXY, biển số 62R1-1854 trị giá 3.000.000 đồng để đi mua đồ ăn. Sau khi mượn được xe của anh T1, T điều khiển xe đi mua đồ ăn và đi chơi, do không có tiền tiêu xài, T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe máy và mang đến xã B, tỉnh Tây Ninh cầm cố cho người tên K (không rõ lai lịch) lấy số tiền 1.500.000 đồng tiêu xài cá nhân.

Hành vi trên đây của bị cáo Huỳnh Quí T đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của anh Trần Trung T1 và gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt tuy chỉ có giá trị là 3.000.000 đồng, nhưng bị cáo T đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích. Bị cáo Huỳnh Quí T là người đã thành niên có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh nói trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội, do vậy, cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và cũng để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Để có cơ sở đưa ra mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cần phân tích đánh giá về nguyên nhân, động cơ dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Về nguyên nhân, động cơ dẫn đến hành vi phạm tội xuất phát từ nhận thức lệch lạc, bị cáo muốn có tiền tiêu xài cá nhân nhưng không phải bỏ công sức lao động mà mang tài sản mượn của người khác đi cầm cố lấy tiền tiêu xài rồi bỏ trốn, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Sau khi cân nhắc, xem xét toàn diện chứng cứ, các tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có tiền án, tiền sự và nhân thân không tốt nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và để phòng ngừa chung cho xã hội.

Về vật chứng: Không thu hồi được nên không xem xét xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại 4.000.000 đồng xong và bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Đối với người cầm xe là vật chứng của vụ án, theo bị cáo khai nhận tên K nhưng không xác định đầy đủ thông tin về họ tên, địa chỉ cư trú nên không có đủ cơ sở để điều tra, xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quan điểm và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175, Điều 32, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quí T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Quí T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 23/3/2026).

Căn cứ vào Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo Huỳnh Quí T 45 (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án (04/5/2026) để đảm bảo công tác thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Quí T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ