- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn H - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Dương Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy vật chứng; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ __________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2026/HS-ST Ngày: 28-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ
,
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mai Thanh Minh;
Ông Dương Tuấn Kiệt.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Tâm – Thư ký viên Toà án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Võ Thành Hay – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2026/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:
Dương Văn H, sinh 15/12/1995, tại thành phố Cần Thơ; tên gọi khác: Không có.
Nơi cư trú: Số E ấp K, xã N, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn H1, sinh 1962 và bà Ngô Thị S, 1963; có vợ và 02 con;
- Tiền án: 01 tiền án, ngày 27/11/2023, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng (cũ) đã xét xử Dương Văn H về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt 06 tháng tù (Bản án số 54/2023/HS-ST, ngày 27/11/2023), bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 08/7/2024, chưa được xóa án tích.
- Tiền sự: 02 tiền sự, ngày 27/4/2020, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng (cũ) Quyết định áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn H 24 tháng (Quyết định số 07/2020/QĐ-TA ngày 27/4/2020); Ngày 06/8/2025 Công an xã N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Dương Văn H về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng (Quyết định số 04/QĐ-XPHC ngày 06/8/2025), bị cáo chưa nộp phạt.
- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam kể từ ngày 28/01/2026 sau đó chuyển đến Trại tạm giam số 2, Công an thành phố C tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Dương Văn H1, sinh năm 1962 (có mặt);
Nơi cư trú: Số E, ấp K, xã N, thành phố Cần Thơ.
2. Bà Ngô Thị S, sinh năm 1963 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Số E, ấp K, xã N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Dương Văn H, sinh ngày 15/12/1995, cư trú tại số nhà E, ấp K, xã N, thành phố Cần Thơ là người nghiện ma túy, đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy (từ ngày 29/10/2021 đến ngày 29/9/2023 theo Quyết định số 207/QĐ-UBND ngày 22/12/2021 của Ủy ban nhân dân xã N) và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 112/QĐ-UBND ngày 06/8/2025 của Ủy ban nhân dân xã N, thành phố Cần Thơ (01 năm kể từ ngày 06/8/2025).
Trong thời hạn bị quản lý sau cai nghiện, bị cáo Dương Văn H không quyết tâm cai nghiện mà tiếp tục sử dụng ma túy, cụ thể: Để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 10/8/2025 Dương Văn H đi đến bãi đất trống trên đường T, khu V, phường P, thành phố Cần Thơ để gặp đối tượng tên T (chưa xác định được nhân thân và địa chỉ cụ thể) mua 200.000 đồng ma túy, loại ma túy đá (Methamphetamine) thì T đồng ý và bán cho H 01 gói ma túy và 01 cây nỏ thủy tinh, sau khi mua ma túy xong H mang về nhà. Đến khoảng 19 giờ, H lấy thêm một chai nhựa, 01 ống hút nhựa để làm bộ dụng cụ sử dụng ma túy, sau đó đem vào phòng ngủ của H để đổ ma túy vào nỏ, đốt sử dụng đến hết số ma túy mua được, còn bộ dụng cụ sử dụng ma túy thì để trong phòng. Đến ngày 13/8/2025 Công an xã N tiến hành mời Dương Văn H để làm việc, kiểm tra chất ma túy trong cơ thể định kỳ thì phát hiện H dương tính với ma túy nên tiến hành thu giữ mẫu nước tiểu của H và cây nỏ thủy tinh phục vụ giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 556/KL-KTHS, ngày 22/8/2025 của Phòng K Công an thành phố C kết luận đối với mẫu nước tiểu của bị cáo Dương Văn H như sau: Mẫu gửi giám định (01 thùng xốp có dán niêm phong dấu tròn màu đỏ của Công an xã N, Công an thành phố C, có các chữ ký ghi tên Nguyễn Diệp Đức T1, Dương Văn H, Dương Văn N. Bên trong có 01 (một) chai thủy tinh chứa chất lỏng màu vàng) tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine.
Tại bản Kết luận giám định số 1532/KL-KTHS, ngày 21/10/2025 của Phòng K Công an thành phố C kết luận đối với nỏ thủy tinh đã thu giữ của bị cáo Dương Văn H như sau: Mẫu gửi giám định (01 túi niêm phong mã số PS3 24000064 có các chữ ký ghi tên Nguyễn Diệp Đức T1, Dương Văn H, Dương Văn H1. Bên trong có 01 nỏ thủy tinh đã qua sử dụng có bám khói màu đen, không xác định được khối lượng) tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
Về vật chứng của vụ án Cơ quan điều tra đã thu giữ:
01 chai nhựa trong suốt có gắn nắp màu đỏ bên trên có hai lỗ, một lỗ gắn đoạn ống nhựa màu trắng;
01 đoạn thủy tinh được uốn cong có một đầu hình tròn hở, bên trong có bám khói màu đen.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Tại Cáo trạng số 08/CT-VKSCTO-KV ngày 08 tháng 4 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ, đã truy tố đối với bị cáo Dương Văn H về “Tội sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025).
Tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội là bị cáo đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định, vì muốn thỏa mãn cơn nghiện nên ngày 10/8/2025 bị cáo đã mua ma túy loại Methamphetamine về sử dụng một mình tại nhà của bị cáo tại số E, ấp K, xã N, thành phố Cần Thơ. Về trách nhiệm hình sự và trong phần lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không có.
- Tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cáo trạng số 08/CT-VKSCTO-KV ngày 08 tháng 4 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 đề nghị xử phạt bị cáo Dương Văn H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Về trách nhiệm dân sự: Không có; Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 chai nhựa trong suốt có gắn nắp màu đỏ bên trên có hai lỗ, một lỗ gắn đoạn ống nhựa màu trắng; 01 đoạn thủy tinh được uốn cong có một đầu hình tròn hở, bên trong có bám khói màu đen. Đề nghị tuyên án phí hình sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị S vắng mặt. Xét thấy, tại giai đoạn điều tra bà S đã có lời khai rõ ràng, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử thống nhất căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bà S. [3] Tại phiên toà, bị cáo Dương Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo là bị cáo Dương Văn H đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định, vì muốn thỏa mãn cơn nghiện nên ngày 10/8/2025 bị cáo đã mua ma túy loại Methamphetamine về sử dụng một mình tại nhà của bị cáo tại số E, ấp K, xã N, thành phố Cần Thơ. Tại bản Kết luận giám định số 556/KL-KTHS, ngày 22/8/2025 của Phòng K Công an thành phố C kết luận đối với mẫu nước tiểu của bị cáo Dương Văn H như sau: Mẫu gửi giám định (01 thùng xốp có dán niêm phong dấu tròn màu đỏ của Công an xã N, Công an thành phố C, có các chữ ký ghi tên Nguyễn Diệp Đức T1, Dương Văn H, Dương Văn N. Bên trong có 01 (một) chai thủy tinh chứa chất lỏng màu vàng) tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine. Tại bản Kết luận giám định số 1532/KL-KTHS, ngày 21/10/2025 của Phòng K Công an thành phố C kết luận đối với nỏ thủy tinh đã thu giữ của bị cáo Dương Văn H như sau: Mẫu gửi giám định (01 túi niêm phong mã số PS3 24000064 có các chữ ký ghi tên Nguyễn Diệp Đức T1, Dương Văn H, Dương Văn H1. Bên trong có 01 nỏ thủy tinh đã qua sử dụng có bám khói màu đen, không xác định được khối lượng) tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng. [4] Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ. Trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định, vì muốn thỏa mãn cơn nghiện nên ngày 10/8/2025 bị cáo đã mua ma túy loại Methamphetamine về sử dụng một mình tại nhà của bị cáo tại số E, ấp K, xã N, thành phố Cần Thơ. Do đó, Cáo trạng số 08/CT-VKSCTO-KV ngày 08 tháng 4 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ, đã truy tố đối với bị cáo Dương Văn H về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận. [5] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn gây mất an toàn trật tự xã hội và gây bất ổn an ninh ở địa phương. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo, nhằm để răn đe, giáo dục và góp phần phòng chống tội phạm. [6] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án về Tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt 06 tháng tù vào ngày 08/7/2024, chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. [7] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025. [8] Về trách nhiệm dân sự: Không. [9] Về vật chứng: Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành gồm: 01 chai nhựa trong suốt có gắn nắp màu đỏ bên trên có hai lỗ, một lỗ gắn đoạn ống nhựa màu trắng; 01 đoạn thủy tinh được uốn cong có một đầu hình tròn hở, bên trong có bám khói màu đen. [10] Đối với người bán ma túy cho bị cáo hiện tại Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng chưa có căn cứ xác định người thực hiện hành vi phạm tội nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ khi có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau. [11] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận. [12] Bị cáo Dương Văn H là người bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 256a, c khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025; Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuyên xử:
1. Xử phạt bị cáo Dương Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn phạt tù tính từ ngày 28/01/2026.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không có.
3. Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 chai nhựa trong suốt có gắn nắp màu đỏ bên trên có hai lỗ, một lỗ gắn đoạn ống nhựa màu trắng; 01 đoạn thủy tinh được uốn cong có một đầu hình tròn hở, bên trong có bám khói màu đen.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Dương Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với người vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ) để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
6. Về việc thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Cần Thơ; - VKSND Thành phố Cần Thơ; - Công an Thành phố Cần Thơ; - VKSND khu vực 8 - CT; - Bị cáo, NLQ; - Phòng THADS khu vực 8 - CT; - Sở Tư pháp TP. CT; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Trần Thị Mến |