vanban.org

Bản án 29/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hà Văn Kh 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 12 năm 2025 (ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ). Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Kh - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - SƠN LA
––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2026/HS-ST
Ngày 27-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA

* Tại điểm cầu trung tâm:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tân Việt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Anh

Bà Hà Thị Yến

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngoãn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hằng - Kiểm sát viên.

* Tại điểm cầu thành phần:

- Kiểm sát viên: Ông Sòi Hùng Thịnh

- Cảnh sát hỗ trợ tư pháp: Ông Lường Bảo Thanh, ông Mùa A Sáu

Ngày 27 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La (điểm cầu trung tâm) và tại Phân trại tạm giam Phù Yên – Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La (điểm cầu thành phần) xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2026/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo: Hà Văn Kh, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1970 tại Sơn La. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản X, xã Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T (đã chết) và bà Tòng Thị H (đã chết); bị cáo có vợ và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 09/12/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng (chấp hành xong ngày 09/3/2022); bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30 tháng 12 năm 2025 đến nay, “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 30/12/2025, trong lúc bị cáo Kh đi bộ từ nhà đến bản Áng, xã Chiềng Hoa, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng, khi đến khu vực bờ sông thuộc địa phận bản Áng thì gặp và hỏi mua được 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. Sau khi mua được ma túy, Kh cất vào túi quần bên phải rồi đi về nhà. Trên đường về thì bị tổ công tác Công an xã Pắc Ngà, tỉnh Sơn La tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng.

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành mở niêm phong, cân tịnh khối lượng vật chứng xác định: Chất bột màu trắng trong gói nilon màu trắng có khối lượng 0,155 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu K.

Tại kết luận giám định số 172/KL-KTHS ngày 15/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu ký hiệu K gửi giám định là ma tuý: Loại Heroine (Heroin); Khối lượng của mẫu gửi giám định là K = 0,155 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,155 gam; Loại Heroine (Heroin). Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Với những tình tiết như trên, tại Cáo trạng số: 04/CT – VKSKV5 ngày 11 tháng 3 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La đã truy tố Hà Văn Kh về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn Kh đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Tuyên bị cáo Hà Văn Kh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh nilon màu trắng, 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Hà Văn Kh trình bày ý kiến tranh luận, nhất trí với quyết định truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La.

Kết thúc tranh luận, bị cáo nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng quy định theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo Hà Văn Kh khai nhận hành vi cất giữ trái phép 0,155 gam Heroine, mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản thu giữ vật chứng, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, hành vi của Hà Văn Kh đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, có khung hình phạt từ 03 năm đến 05 năm tù; đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc cất giữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý phạm tội.

Về nhân thân: Ngày 09/12/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng. Bản thân là người dân tộc thiểu số, làm nghề lao động tự do, trình độ học vấn thấp.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt chính, từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt, cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,…”. Theo quy định trên, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy, điều kiện kinh tế gia đình bị cáo còn khó khăn, thu nhập không ổn định. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 mảnh nilon màu trắng và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, xác định là vật chứng, vật không có giá trị; căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với người đàn ông lạ mặt đã bán ma túy cho bị cáo Kh. Bị cáo không biết họ tên, địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo Kh, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên không có căn cứ để xử lý.

Về biện pháp ngăn chặn: Do đến ngày xét xử, thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết; căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự; cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Về án phí: Bị cáo sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; tại phiên tòa bị cáo đề nghị được miễn án phí; căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; cần miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

1. Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hà Văn Kh 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 12 năm 2025 (ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ). Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu trắng và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu (mô tả chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an và Cơ quan Thi hành án dân sự).

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; các Điều 14, 15; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Hà Văn Kh được miễn nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/3/2026). Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị hại (nếu có);

- VKSND khu vực 5-Sơn La; Giao

- Người bào chữa (nếu có);

- TAND tỉnh Sơn La;

- VKSND tỉnh Sơn La;

- Công an tỉnh Sơn La;

- Phòng HSNV-CA tỉnh;

- Cơ quan THAHS-CA tỉnh;

Gửi

Hoàng Tân Việt

- Phân trại TG Phù Yên;

- Người có QL,NVLQ (nếu có);

- THADS tỉnh (án có hiệu lực);

- Lưu: HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị hại (nếu có);

- VKSND xã Phù Yên; Giao

- Người bào chữa (nếu có);

- TAND tỉnh;

- VKSND tỉnh;

- Cơ quan điều tra- CA huyện ;

Hoàng Tân Việt

- CQ Thi hành án hình sự;

Gửi

- Trại TG (nhà tạm giam);

- Sở tư pháp tỉnh;

- Người có QL,NVLQ (nếu có);

- Chi cục THADS huyện (án có hiệu lực);

- Lưu: HS.

Cỡ chữ