- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Hữu K"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật tố tụng hành chính; Luật phá sản
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 17 – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29 /2026/HNGĐ-ST Ngày: 23 - 3 - 2026 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Sơn
Bà Huỳnh Thị Thúy Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Lê Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 - Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 246/2025/TLST – HNGĐ, ngày 29 tháng 12 năm 2025, về việc “Ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 02 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2026/QĐ-TĐ, ngày 05 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Hữu K, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Số D, đường số A, thôn Đ, xã N, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Bà Trần Thị Tuyết H, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Số A, đường số A, thôn Đ, xã N, tỉnh Lâm Đồng.
Tại phiên tòa: Vắng mặt nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Vắng mặt bị đơn không có lý do chính đáng cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn trình bày:
Vào năm 1996, ông Lê Hữu K và bà Trần Thị Tuyết H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (cũ) nay là Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông bà chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không cùng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên sảy ra mâu thuẫn và bất hòa. Ông K và bà H sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, trong thời gian ly thân ông bà mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Nay ông K xác định không còn tình cảm với bà H, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn.
Về con chung: Ông Lê Hữu K và bà Trần Thị Tuyết H có 02 con chung gồm Lê Trần Hữu T sinh năm 1996, Lê Trần Hữu K1 sinh năm 2001. Hiện nay các con đã đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động nên ông K không yêu cầu giải quyết về vấn đề con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết quyết.
Đối với bị đơn bà Trần Thị Tuyết H:
Sau khi thụ lý vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập nhưng bị đơn đều không có ý kiến gửi Tòa án, cũng không tham gia làm việc. Do đó, tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại biên bản xác minh bút lục 21 thể hiện:
Ông Lê Hữu K và bà Trần Thị Tuyết H có phát sinh mâu thuẫn gia đình, đã nộp đơn khởi kiện ly hôn mấy lần, không hàn gắn được. Khoảng năm 2020, ông K và bà H không còn chung sống với nhau, mỗi người một nơi. Bà H hiện nay đang làm công nhân tại thành phố Hồ Chí Minh, công việc tăng ca nhiều, bà hoa có biết lịch mời làm việc của Tòa án nhưng vì không thể xin nghỉ được nên bà H không thể tham gia tại Tòa án.
Tóa án đã tổ chức các phiên hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về các vấn đề có tranh chấp trong vụ án nhưng không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Lâm Đồng
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
+ Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị ông Lê Hữu K được ly hôn với bà Trần Thị Tuyết H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Bị đơn bà Trần Thị Tuyết H hiện đăng ký hộ khẩu tại thôn Đ, xã H, tỉnh Lâm Đồng nên việc khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện khu vực 17 – Lâm Đồng được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hoà giải Đối thoại tại Toà án năm 2025.
[ 2] Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt bị đơn bà Trần Thị Tuyết H không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cũng không có lý do chính đáng. Vắng mặt nguyên đơn ông Lê Hữu K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa là phù hợp.
Nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Ông Lê Hữu K và bà Trần Thị Tuyết H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 16/4/1996, số vào sổ 032/1996, tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (cũ) nay là Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Lâm Đồng, đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo lời khai của ông K và kết quả xác minh tại địa phương, đủ cơ sở để xác định trong quá trình chung sống ông K và bà T1 hay phát sinh mâu thuẫn về vấn đề bất đồng quan điểm sống. Ông K và bà L đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay, trong quá trình ly thân ông K và bà H mạnh ai nấy sống, không quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên họp để hòa giải và tạo điều kiện cho các bên đoàn tụ, xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng bà H vẫn không tham gia hòa giải tại Tòa án. Nhận thấy, bà H đã không còn tha thiết với cuộc hôn nhân này, mâu thuẫn giữa bà H và ông K thật sự trầm trọng, có duy trì cũng không đem lại hạnh phúc cho nhau. Từ đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử cho ông K được ly hôn với bà H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Ông Lê Hữu K và bà Trần Thị Tuyết H có 02 con chung gồm Lê Trần Hữu T sinh năm 1996, Lê Trần Hữu K1 sinh năm 2001. Hiện nay các con đã đủ tuổi trưởng thành, ông K và bà H không yêu cầu Tòa án xem xét về vấn đề con chung nên Hội đồng xét xử không cần xem xét trong bản án này.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không cần xem xét trong bản án này.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng: Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng về việc đề nghị giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hoà giải Đối thoại tại Toà án năm 2025.
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Hữu K được ly hôn bà Trần Thị Tuyết H.
2. Về án phí: Ông Lê Hữu K phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011579, ngày 29 tháng 12 năm 2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 17 – Lâm Đồng. Ông K đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 17 – Lâm Đồng; - Các đương sự; - CCTHADS tỉnh Lâm Đồng; - Phòng THAKV 17 – Lâm Đồng; - UBND xã Nam Thành, Lâm Đồng; - Lưu HS, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Vân N g u y ễ n V ă n Q ú y |