- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Câm L - Dương Xuân C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm L.
- Căn cứ chính? Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2026/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 8 - 2026 V/v “Xác định một người không phải cha, con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quý
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Hải Vân và ông Nguyễn Nam Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Quảng Trị
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Quảng Trị tham gia phiên tòa: bà Mai Thị Hoàng Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2026 tại Hội trường Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 224/2026/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2026 về việc “Xác định một người không phải cha, con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Cẩm L, sinh năm 1987; địa chỉ: 2 N, khu phố C, phường B, thành phố Hồ Chí Minh, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: ông Dương Xuân C, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn C, xã C, tỉnh Quảng Trị, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện, lời khai quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Vào năm 2017, trong thời gian sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị Cẩm L có quan hệ tình cảm với một người đàn ông và mang thai. Ngày 02/8/2017, bà L sinh một bé gái đặt tên là Nguyễn Dương Nhật Á, số định danh cá nhân xxxxxxxxxxxx. Do không đăng ký kết hôn với cha ruột của cháu và vì lý do cá nhân, khi làm thủ tục khai sinh, bà đã nhờ anh họ là ông Dương Xuân C đứng tên là cha của cháu. Nay bà có nhu cầu làm lại thủ tục xác định lại cha cho con để đảm bảo quyền lợi cho cháu Nguyễn Dương Nhật Á, nhưng ông C không hợp tác để làm thủ tục. Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định ông Dương Xuân C không phải là cha ruột của cháu Nguyễn Dương Nhật Á, sinh ngày 02/8/2017.
Tại bản trình bày ý kiến ngày 31/7/2026, bị đơn ông Dương Xuân C trình bày: Ông xác nhận đúng là vào ngày 02/8/2017, bà Nguyễn Thị Cẩm L có sinh cháu Nguyễn Dương Nhật Á. Do là anh em họ và muốn hỗ trợ bà L trong việc làm giấy tờ cho cháu, ông đã đồng ý đứng tên cha trong Giấy khai sinh. Ông khẳng định ông hoàn toàn không có quan hệ huyết thống cha - con với cháu Nhật Á và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử của Thẩm phán, Thư ký và của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn: nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại các Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- Quan điểm về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 85/2025/QH15; khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; khoản 1 Điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ – HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao , đề nghị Hội đồng xét xử quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm L.
2. Xác định ông Dương Xuân C không phải là cha ruột của cháu Nguyễn Dương Nhật Á, sinh ngày 02/8/2017, số định danh cá nhân xxxxxxxxxxxx.
3. Về án phí: các đương sự được miễn án phí. Bà Nguyễn Thị Cẩm L được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Cẩm L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ông Dương Xuân C không phải là cha ruột của cháu Nguyễn Dương Nhật Á, Hội đồng xét xử xác định tranh chấp “xác định một người không phải là cha, con” theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại xã C, tỉnh Quảng Trị nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực – Quảng Trị theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã C, tỉnh Quảng Trị, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 85/2025/QH15 có hiệu lực từ 01/7/2025 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Quảng Trị. Tại phiên tòa, cả nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm L về việc xác định ông Dương Xuân C không phải là cha của cháu Nguyễn Dương Nhật Á. Hội đồng xét xử xét thấy: Kết quả xét nghiệm ADN số 25386PG/DNA ngày 17/7/2025 của Công ty TNHH Đ kết luận ông Dương Xuân C không có quan hệ huyết thống cha - con với cháu Nguyễn Dương Nhật Á. Tài liệu, chứng cứ này cũng phù hợp với ý kiến của ông Dương Xuân C, ông C thừa nhận rằng do có mối quan hệ họ hàng nên ông đã đứng tên cha trong giấy khai sinh của cháu Nhật Á để cháu thuận tiện trong hồ sơ giấy tờ đi học; ông C khẳng định ông không phải là cha ruột của cháu Nhật Á. Từ những cơ sở trên, xét thấy yêu cầu của bà Nguyễn Thị Cẩm L là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên cần được chấp nhận. [3] Về án phí: Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ – HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các đương sự được miễn án phí. Bà Nguyễn Thị Cẩm L được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 85/2025/QH15; khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và khoản 1 Điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ – HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm L.
2. Xác định ông Dương Xuân C không phải là cha ruột của cháu Nguyễn Dương Nhật Á, sinh ngày 02/8/2017, số định danh cá nhân xxxxxxxxxxxx.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, các bên đương sự có quyền liên hệ với cơ quan hộ tịch có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch. 3. Về án phí: các đương sự được miễn án phí. Bà Nguyễn Thị Cẩm L được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/26E/0000222 ngày 14/7/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND Khu vực 5; - Phòng THADS Khu vực 5; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quý |