- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang D cùng đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quang D và Đào Văn Thành phạm tội
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2025/HSST Ngày: 16/01/2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân
Bà Vũ Thị Hoà
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhândânthànhphố Lào Cai.
Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
Ngày 16/01/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 226/2024/TLST- HS ngày 29/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
1.Họ và tên: Trần Quang D (tên gọi khác: Không). Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/12/1985, tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Tổ 15, phường Bắc Lệnh, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc Đài và bà Phạm Thị Thơm; Vợ Vương Thị Hương; Bị cáo có 01 con, sinh năm 2013; Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Nhân thân: Bản án số 73/HSST/2004 ngày 30/7/2004 của Tòa án nhân dân thị xã Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”
Bản án số 12/HSST/2021 ngày 11/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai - Có mặt.
2.Họ và tên : Đào Văn Thành (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 17/10/1985 tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn Công trường 5, xã Cam Đường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt
1
Nam; Con ông Đào Quang Thực và bà: Đỗ Thị Xoan (đều đã chết); Vợ Hoàng Thị Ngọ (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con, sinh năm 2010;
Tiền án: 01 tiền án Bản án số 99/2022/HSST ngày 29/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt Đào Văn Thành 02 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 03/11/2021 Đào Văn Thành bị Công an thành phố Lào Cai xử phạt 1.500.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi Trộm cắp tài sản.
Bản án số 159/HSST/2013 ngày 29/11/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt Đào Văn Thành 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 06/10/2024,Trần Quang D, đang điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 30L9 - 6671 đi trên đường Phan Huy Ích thuộc tổ 16, phường Bắc Lệnh, thành phố Lào Cai thì gặp Đào Văn Thành đang đi bộ ở ven đường, Dũng dừng xe lại và nói với Thành mỗi người góp 100.000đ để mua ma túy về sử dụng,Thành đồng ý và đưa Dũng 100.000đ, cả hai thống nhất sau khi mua được sẽ chia đôi để tự sử dụng. Sau đó,Thành đi lên xe mô tô do Dũng điều khiển rồi cùng đi tìm mua ma túy. Khi đi đến khu vực chợ cóc trên đường Hoàng Sào, phường Pom Hán, Dũng dừng xe lại để Thành xuống xe đứng chờ, còn Dũng tiếp tục điều khiển xe đi mua ma tuý, Dũng đi khoảng 50 mét thì gặp một người nữ giới không quen biết, đang đứng một mình ở ven đường Trần Hưng Đạo. Dũng hỏi mua 200.000đ ma túy và nhận 01 gói ma tuý cất giấu trên người. Sau đó Dũng điều khiển xe đi đón Thành.
Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 06/10/2024, khi Dũng dừng đỗ xe mô tô, biển kiểm soát 30L9 - 6671 ở ven đường Hoàng Sào thuộc tổ 21, phường Pom Hán, thì bị đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế- ma tuý Công an thành phố Lào Cai kiểm tra. Quá trình kiểm tra Dũng khai nhận đang cất giấu ma tuý Heroine trên người. Trước sự có mặt của người chứng kiến, Dũng tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 (một) gói giấy, mở kiểm tra bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục. Tổ công tác Công an thành phố Lào Cai cùng người chứng kiến cùng dẫn giải Trần Văn Dũng và vật chứng về trụ sở Công an phường Pom Hán để làm việc và niêm phong vật chứng thu giữ theo quy định.
Tại kết luận giám định số 429/GĐMT ngày 08/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,114 (không phẩy không trăm mười
2
bốn) gam các chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là loại chất ma tuý heroine.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Quang D và Đào Văn Thành khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 215/CT - VKS ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã truy tố bị cáo Trần Quang D và Đào Văn Thành về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quang D và Đào Văn Thành phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đối với Trần Quang D: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Quang D với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Đối với Đào Văn Thành: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Đào Văn Thành với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị xử lý vật chứng vụ án theo quy định của pháp luật. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bi ̣ cáo Trần Quang D và Đào Xuân Thành: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận tội ngày 06/10/2024, bị cáo Trần Quang D và
3
Đào Văn Thành mỗi người góp 100.000 đồng để mua ma tuý về sử dụng, sau đó Dũng là người trực tiếp đi mua của một người nữ giới không quen biết ở khu vực đường Hoàng Sào, phường Pom Hán 01 gói ma tuý Heroine có khối lượng là 0,114 gam với giá 200.000 đồng mục đích để cùng Thành sử dụng. Khi Dũng đang đứng ở ven đường Hoàng Sào thì bị bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng. Vì vậy Trần Quang D và Đào Văn Thành phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,114 gam ma tuý Heroine.
Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Quang D và Đào Văn Thành phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo kết luận giám định khối lượng ma túy các bị cáo mua bán có tổng khối lượng là 0,114 (Không phẩy một trăm mười bốn) gam ma túy Heroine
Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật, nhưng do coi thường pháp luật nên vào ngày 06/10/2024, Dũng và Thành đã cùng nhau góp tiền mua một gói ma tuý có khối lượng 0,114 (Không phẩy một trăm mười bốn) gam ma túy Heroine mục đích để sử dụng. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất, Dũng là người khởi xướng và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm chính, còn Thành khi Dũng rủ đã đồng ý và góp cũng Dũng 100.000 đồng để mua ma tuý, vì vậy Thành phải chịu trách nhiệm đồng phạm với Dũng với khối lượng 0,114 gam ma túy Heroine.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần phải xét xử bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Các bị cáo Trần Quang D và Đào Văn Thành có nhân thân xấu đã có tiền án, tiền sự mặc dù đã được xoá án tích nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội và đều sử dụng chất ma tuý. Bị cáo Đào Văn Thành có 01 tiền án chưa được xoá án tích.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đào Văn Thành phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo. Vì vậy cần cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Trần Quang D có bố đẻ là ông Trần Ngọc
4
Đài được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba, vì vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với toàn bộ số ma tuý còn lại sau trích mẫu giám định, đây là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Vì vậy cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và 100.000 đồng tạm giữ của Trần Quang D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 6 Plus; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy J3, tạm giữ của Đào Văn Thành. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, loại LUVIAS, số máy: 44S1-011658; số khung: RLCL44S10AY011644, BKS: 30L9 - 6671, tình trạng: Đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này đăng ký chính chủ của chị Nguyễn Thị Hồng Vân, sinh năm 1970; nơi thường trú: P122 Tòa C Tập thể Nhà máy Thuốc lá Thăng Long, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Quá trình làm việc,chị Vân khai báo chiếc xe trên được một người không quen biết nhờ đứng tên hộ và được hưởng tiền công là 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng). Chị Vân không quản lý và sử dụng chiếc xe trên từ thời điểm đăng ký xe đến nay. Bị cáo Dũng khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết với giá 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) vào năm 2023, khi mua bán không làm giấy tờ; hợp đồng mua bán gì. Cơ quan điều tra đề nghị giữ lại chiếc xe mô tô để tiếp tục xác minh về nguồn gốc sở hữu.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 06/10/2024. Quá trình điều tra xác định bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ của người này. Do vậy Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý. [6] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quang D và Đào Văn Thành phạm tội
“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
2.Về hình phạt: Đối với Trần Quang D: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Trần Quang D 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 06/10/2024.
Đối với Đào Văn Thành: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự. Phạt bị
5
cáo Đào Văn Thành 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 06/10/2024.
3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 0,075 gam ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt bì thư ghi: "Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Trần Quang D ngày 06/10/2024 tại tổ 21, phường Pom Hán, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai".
Tạm giữ để đảm bảo thi hành án của Trần Quang D 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số IMEI 1: 869035041660230, tình trạng đã qua sử dụng, màn hình vỡ, thân máy trầy xước; Tiền Việt Nam 100.000 đồng (số tiền hiện đang gửi tại tài khoản 394909049863 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai mở tại kho bạc nhà nước Lào Cai)
Tạm giữ để đảm bảo thi hành án của Đào Văn Thành 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 6S Plus, số IMEI: 355748070939389, tình trạng: Đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy J3, số IMEI 1: 359929075803806/01; số IMEI 1: 359930075803804/01, tình trạng: Đã qua sử dụng, màn hình vỡ, thân máy trầy xước.
(Vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/01/2025)
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy đi ̣nh về án phi, lê ̣ phi Tòa án: Buộc bị cáo Trần Quang D và Đào Văn Thành
́
́ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh - VKSND tỉnh, TP - Công an TP Lào Cai - Sở tư pháp - Chi cục THADSTP Lào Cai; - Cơ quan THAHS CATP Lào Cai - Bị cáo 2; - Lưu hồ sơ; tập án 6 7 | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Phạm Thị Thanh Hƣơng |