- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32A/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8…"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2025/HSST Ngày: 26-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – KHÁNH HÒA
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Lai
2. Ông Võ Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Khánh Hòa tham gia phiên Tòa: Ông Nguyễn Văn Doanh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Khánh Hòa xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32A/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc S, sinh ngày 26 tháng 11 năm 1996 tại Khánh Hòa.
Nơi thường trú: Tổ dân phố H, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 08/12; Họ tên cha: (không rõ), họ tên mẹ: Nguyễn Thị M.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bị Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 02 (hai) năm tại Quyết định số 17/2021/QĐ-TA ngày 03/02/2021;
- Bị Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2025/HSST ngày 25/6/2025.
Bị cáo bị giam trong vụ án khác.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị L, sinh năm 1969
Địa chỉ: Thôn Vinh Quang, xã Tân Hà Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
* Người làm chứng: Ông Nguyễn Đức N, sinh năm 1964
Địa chỉ: Tổ dân phố M, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 07/01/2025, Nguyễn Quốc S liên hệ với người tên Hưng (không rõ lai lịch) để mua 300.000 đồng ma túy về sử dụng. Sau đó, Sơn đi đến vị trí đã hẹn và mua 300.000 đồng ma túy của Hưng rồi mang về phòng trọ của mình để cất giấu. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, Sơn lấy số ma túy trên cất giấu vào túi quần phía sau bên phải rồi điều khiển xe mô tô 49D1-765.52 rời khỏi phòng trọ để tìm nơi sử dụng. Khi Sơn đi đến khu vực tổ dân phố Mỹ Ca, phường Bắc Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa thì bị tổ công tác của Đồn Biên phòng Cam Ranh phát hiện. Thu giữ của Nguyễn Quốc S: 01 bịch nilong màu trắng có ba đầu được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng (niêm phong ký hiệu A).
Tại Kết luận giám định số 49/2025/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4297g, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSKV2-HS ngày 06/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Khánh Hòa thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên nội dung đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Quốc S và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc S mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của người tham gia tố tụng trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ các Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với Biên bản sự việc ngày 07/01/2025; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 07/01/2025; Biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định ngày 08/01/2025; Kết luận giám định số 49/2025/KL-KTHS ngày 13/01/2025 và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đồng thời, qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 07/01/2025, tại khu vực thuộc tổ dân phố Mỹ Ca, phường Bắc Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, Nguyễn Quốc S có hành vi tàng trữ 0,4297g ma túy loại Methamphetamine.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm nhân dân Khu vực 2 – Khánh Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Quốc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý và sử dụng chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự an ninh xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng, làm gia tăng các loại tội phạm khác. Khi thực hiện hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình và biết pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện việc tàng trữ và sử dụng ma túy. Số lượng ma túy bị cáo tàng trữ ở mức khởi điểm của khung hình phạt.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 02 (hai) năm nhưng không cai nghiện thành công; sau khi chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính còn thực hiện hành vi phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” chứng tỏ sự xem thường pháp luật và ý thức cải tạo kém của bị cáo.
Về tổng hợp hình phạt: Trước khi xét xử tại vụ án này, bị cáo bị xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2025/HSST ngày 25/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa nên Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo Điều 56 Bộ luật Hình sự. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2025.
Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa và không yêu cầu về phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc S 01 (một) xe máy nhãn hiệu Suzuki Satria màu đen, có biển kiểm soát 49D1-765.52 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax màu đen là vật chứng không liên quan đến tội phạm.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
- Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015;
- Các Điều 106, 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc S 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2025/HSST ngày 25/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Khánh Hòa) và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 05/TB-TA ngày 28 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Khánh Hòa; buộc bị cáo Nguyễn Quốc S phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là: 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2025.
3. Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc S 01 (một) xe máy nhãn hiệu Suzuki Satria màu đen, có biển kiểm soát 49D1-765.52, số khung: MH8DL11AZ3J153656, số máy: CCGA1ID153677.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc S 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax màu đen, số IMEL: 353094103719387, có gắn thẻ sim 0377861671.
Chi tiết về vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/8/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 – Khánh Hòa.
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa; - VKSND Khu vực 2 – Khánh Hòa; - Công an tỉnh Khánh Hòa (02 bản); - Phòng THADS Khu vực 2 – Khánh Hòa; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Hoàng |