vanban.org

Bản án 29/2025/HSST — Hình sự

TAND huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 23/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đương bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ JÚT
TỈNH ĐĂK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HSST
Ngày 23/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Bào.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hồng và bà Lê Thị Hòa

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Thể - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên toà: Ông Nông Quốc Hùng- Kiểm sát viên.

Ngày 23/4/2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2025/TLST- HS ngày 25/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST- HS ngày 08/4/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1990 tại tỉnh Thái Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Bon Bu B, xã Quảng T, huyện R, tỉnh Đ; căn cước công dân số: 034.090.022.157, cấp ngày 08/7/2024; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn lớp: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Nguyễn Văn Th (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Đ- sinh năm 1961; vợ: Thị N- sinh năm 1989 và 03 người con (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2022); bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/01/2025 đến ngày 28/01/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại- Có mặt tại phiên tòa.

*/ Bị hại: cháu Hoàng Minh Q, sinh năm 2017 (chết)

Người đại diện hợp pháp của cháu Quân: ông Hoàng Xuân T, sinh năm 1982 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1983 (cha, mẹ cháu Q)

Địa chỉ: Tổ dân phố 11, khu phố 10, thành phố P, tỉnh K

Có đơn xin xét xử vắng mặt

*/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trần Thị K, sinh năm 1961 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Trú tại: Thôn 13, xã T, huyện C, tỉnh Đ

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại, dịch vụ, sản xuất M

Địa chỉ: số 171 Cát Quế, thị trấn L, huyện B, tỉnh L

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Thành H, sinh năm 1981

Trú tại: 297 ấp T, xã Thới T, huyện H, thành phố M. Vắng mặt

* Người làm chứng: ông Mai Văn S, sinh năm 1972. Vắng mặt.

Trú tại: Tổ dân phố 7, xã thị trấn E, huyện Ct, tỉnh Đ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe hạng FC, lái xe cho Công ty TNHH Thương mại, dịch vụ, sản xuất M (gọi tắt là Công ty Minh Kỳ). Ngày 26/01/2025, T được Công ty M điều động điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát (BKS): 49H-033.21 kéo theo Sơ mi rơ mooc BKS: 49RM-000.92 chở hàng từ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đi giao cho các đại lý ở xã Nam Dong, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông. Khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày, sau khi giao hàng xong T điều khiển xe quay về Công ty, khi xe di chuyển đến đoạn đường Nguyễn Văn Linh thuộc Bon U2, thị trấn Ea Tling, huyện Cư Jút đến ngã tư chợ huyện Cư Jút (giao nhau giữa đường Hồ Chí Minh), T thấy đèn tín hiệu ở ngã tư đang chuyển đèn xanh nên T tiếp tục cho xe di chuyển về phía trước đồng thời điều khiển xe chuyển hướng sang phải theo hướng di chuyển để đi về hướng huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông. Do T không chú ý quan sát, không giảm tốc, không nhường đường cho xe thô sơ và chuyển hướng khi không đảm bảo an toàn nên phần đầu bên phải của xe ô tô đầu kéo tông vào đuôi xe đạp điện do bà Trần Thị K chở theo cháu Hoàng Minh Q đang di chuyển cùng chiều phía trước bên phải theo hướng di chuyển làm cho bà Kim và cháu Q ngã xuống đường, hậu quả cháu Q bị bánh xe ô tô đầu kéo đè lên người tử vong tại chỗ, xe đạp điện hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường xảy ra tai nạn là đường Hồ Chí Minh (Quốc lộ 14), khu vực giao nhau giữa đường Hồ Chí Minh với đường Nguyễn Văn Linh, có đèn tín hiệu (xanh-vàng-đỏ) thuộc Bon U2, thị trấn Ea Tling, huyện Cư Jút. Mặt đường nhựa bằng phẳng, hai bên đường có đông dân cư sinh sống. Lấy đường kẻ cắt ngang mặt đường Phạm Văn Đồng dài 14m làm lề chuẩn, lấy trụ điện số 477CJU/100 làm điểm cố định hiện trường. Tiến hành khám nghiệm hiện trường theo phương pháp cuốn chiếu hướng thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đi huyện Đăk Mil, tỉnh Đắk Nông, kết quả như sau:

Điểm va chạm đầu tiên: Căn cứ dấu vết để lại hiện trường, dấu vết để lại trên phương tiện, dữ liệu điện tử (video từ camera) …. xác định: Điểm va chạm đầu tiên là giữa góc phía trước bên phải của cản trước xe ô tô đầu kéo BKS: 49H-033.21 và góc phía sau bên trái của cụm đèn sau xe đạp điện hiệu HITASA. Điểm này chiếu vuông góc xuống mặt đường tại mành sơn màu đỏ bị vỡ trên mặt đường, ký hiệu là (X) trong hiện trường. (X) cách trục sau xe đạp điện (4) là 2,1m; cách lề chuẩn là 12,53m; cách trụ điện số 477CJU/100 là 17,1m.

- Kết luận giám định số 34/KLGĐTT-TTPY, ngày 27/01/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đăk Nông kết luận: Nguyên nhân chết của cháu Hoàng Minh Q là “Chấn thương sọ não”.

Kết luận giám định (không có số), ngày 18/02/2025 của Sở giao thông vận tải tỉnh Đắk Nông, kết luận:

a) Tổ Giám định không có cơ sở để kết luận tình trạng an toàn kỹ thuật hệ thống thắng (phanh), hệ thống lái, hệ thống bánh lốp của xe ô tô đầu kéo BKS: 49H-033.21 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS: 49RM-000.92 tại thời điểm trước và trong lúc xảy ra tai nạn giao thông ngày 26/01/2025.

b) Tình trạng an toàn kỹ thuật hệ thống phanh, hệ thống lái, hệ thống bánh lốp của xe ô tô đầu kéo BKS: 49H-033.21 và sơ mi rơ moóc BKS: 49RM-000.92 tại thời điểm giám định an toàn kỹ thuật vào ngày 14/02/2025 như sau:

* Xe ô tô đầu kéo BKS 49H-033.21; nhãn hiệu: CNHTC; năm sản xuất: 2015.

- Hệ thống lái: Hoạt động bình thường, không phát hiện sự cố kỹ thuật;

- Hệ thống bánh lốp: Đầy đủ, đúng kiểu loại. Tất cả các lốp xe đều đảm bảo yêu cầu kỹ thuật;

- Hệ thống phanh: Tổ Giám định không có cơ sở để xác định an toàn kỹ thuật hệ thống phanh của xe.

* Sơ mi rơ moóc BKS 49RM-000.92; nhãn hiệu: FUSHI; số loại: LFS9403CCY; năm sản xuất: 2023.

- Hệ thống bánh lốp:

+ Đầy đủ, đúng kiểu loại;

+ Có 04 lốp xe (02 lốp tại cụm bánh xe bên phải của trục 2 và 02 lốp tại cụm bánh xe bên trái của trục 1) bị mòn đến dấu chỉ báo độ mòn của nhà sản xuất. Không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật;

- Hệ thống phanh: Tổ Giám định không có cơ sở để xác định an toàn kỹ thuật hệ thống phanh của xe.

Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS, ngày 21/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cư Jút kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của tài sản cần định giá là 5.433.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 24/CTr- VKS ngày 24/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã truy tố bị cáo Thanh về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jut truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo các điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS là đúng, không oan.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 và Điều 65 của BLHS, xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra giữa ông T, bà H (đại diện bị hại cháu Q; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà K) và bị cáo T, ông H (đại diện Công ty M) đã thỏa thuận về việc bồi thường toàn bộ thiệt hại số tiền 270.000.000 đồng, đại diện bị hại, người liên quan không yêu cầu bồi thường thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng các điểm b, khoản 1, Điều 46 BLHS; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trả xe ô tô đầu kéo, Sơ mi rơ moóc, chứng nhận đăng ký xe đầu kéo, chứng nhận đăng ký rơ moóc cho Công ty M; Trả xe đạp điện hiệu HITASA và 01 mảnh nhựa vỡ cho bà K là các chủ sở hữu hợp pháp. Trả cho bị cáo T Giấy phép lái xe hạng A1, FC số: 310171017803. Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 video tên "Nga tu cho Cư Jut", dung lượng 2,93 Mb, thời lượng 25 giây được lưu vào 01 USB niêm phong theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có căn cứ để xác định: Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 26/01/2025, bị cáo T điều khiển xe ô tô đầu kéo di chuyển từ xã Nam Dong về thị trấn Ea Tling, khi xe đang di chuyển trên đường Nguyễn Văn Linh đến ngã tư chợ huyện Cư Jút (giao nhau giữa đường Hồ Chí Minh ), T thấy đèn tín hiệu ở ngã tư đang chuyển đèn xanh nên T tiếp tục cho xe di chuyển về phía trước, điều khiển xe chuyển hướng sang phải theo hướng di chuyển về huyện Đăk Mil. Do bị cáo T không chú ý quan sát, không giảm tốc, không nhường đường cho xe thô sơ và chuyển hướng khi không đảm bảo an toàn nên phần đầu bên phải của xe ô tô đầu kéo tông vào đuôi xe đạp điện do bà Trần Thị K, trên xe chở theo cháu Q đang di chuyển cùng chiều phía trước bên phải làm cho bà K, cháu Q ngã xuống đường, hậu quả cháu Q bị bánh xe ô tô đầu kéo do bị cáo T điều khiển đè lên người tử vong tại chỗ, xe đạp điện hư hỏng, thiệt hại 5.433.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn T vi phạm khoản 2, khoản 3 Điều 15 của Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

Xét các chứng cứ buộc tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc xử lý bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần chấp nhận.

Như vậy, đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Văn Thanh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;

a) Làm chết người

. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trận tự, an toàn giao thông đường bộ. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi điều khiển xe ô tô không chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn giao thông đường bộ như không chú ý quan sát, không giảm tốc, không nhường đường cho xe thô sơ và chuyển hướng xe khi không đảm bảo an toàn là vi phạm nhưng do lỗi vố ý, hậu quả làm cháu Q bị chết tại chỗ. Vì vậy đối với bị cáo cần phải xử phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thì mới có đủ tác dụng để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

Về các tình tiết giảm nhẹ: trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã chủ động khắc phục hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại và được gia đình bị hại bãi nại xin giảm hình phạt cho bị cáo. Vì vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Xét thấy do bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, phạm tội thuộc trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần áp dụng Điều 65 của BLHS cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tự học tập, cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với cháu Q, sinh năm 2017 (chưa đủ 16 tuổi) vì vậy cần áp dụng tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi…” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: xét thấy trong giai đoạn điều tra giữa ông T, bà H (đại diện bị hại Q; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà K) và bị cáo T, ông H (đại diện Công ty M) đã thỏa thuận về việc bồi thường toàn bộ thiệt hại số tiền 270.000.000 đồng, đại diện người bị hại, người liên quan không yêu cầu bồi thường thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe ô tô đầu kéo BKS: 49H-033.21, Sơ mi rơ moóc tải BKS: 49RM - 000.92, chứng nhận đăng ký xe số 49 000534, chứng nhận đăng ký rơ moóc số 49 000110 cho Công ty M; 01 xe đạp điện hiệu HITASA và 01 mảnh nhựa vỡ trong giai đoạn điều tra cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty M, bà Trần Thị K, là các chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ nên cần chấp nhận.

- Đối với Giấy phép lái xe hạng A1, FC số: 310171017803, mang tên Nguyễn Văn T là giấy tờ hợp pháp của bị cáo nên cần trả cho bị cáo.

- Đối với 01 video tên "Nga tu cho Cư Jut" được trích từ camera an ninh của Công an thị trấn Ea T’Ling, được lưu vào 01 USB cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

. Về án phí: Bị cáo Thanh phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 và Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự thảo thuận giữa ông T, bà H (đại diện bị hại Q; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà K) và bị cáo T, ông H (đại diện Công ty M) về việc bị cáo T đã bồi thường toàn bộ thiệt hại 270.000.000 đồng cho đại diện người bị hại, người liên quan.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Chấp nhận cơ quan điều tra đã trả cho Công ty M xe ô tô đầu kéo BKS: 49H-033.21, Sơ mi rơ moóc tải BKS: 49RM - 000.92, chứng nhận đăng ký xe đầu kéo, chứng nhận đăng ký rơ moóc; Trả cho bà Trần Thị K 01 xe đạp điện hiệu HITASA và 01 mảnh nhựa vỡ.

- Trả cho bị cáo Nguyễn Văn T Giấy phép lái xe hạng A1, FC số: 310171017803, mang tên Nguyễn Văn T.

- Lưu hồ sơ vụ án 01 video tên "Nga tu cho Cư Jut" được lưu vào 01 USB.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người đại diện hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản bản được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM * Nơi nhận:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

- TAND tỉnh Đăk Nông;

- Sở tư pháp tỉnh Đăk Nông;

(Đã ký)

- VKSND huyện Cư Jút;

- CQCS điều tra;

- Chi cục THADS huyện Cư Jút;

NÔNG VĂN BÀO

- UBND xã Quảng Tín

- Bị cáo; bị hại; NCQLNVLQ;

- Lưu HS.

Cỡ chữ