- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 260 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2025/HSPT Ngày: 22 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Minh Thư
Bà Trương Thị Lệ Thu
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hồng Na – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 25/TLPT-HS ngày 26 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo Bùi Văn H do có kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST, ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Bị cáo kháng cáo: Họ và tên: Bùi Văn H. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24/10/1978, tại thị trấn V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT: Thôn E, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện tại: Khu phố Y, thị trấn V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Đức D, sinh năm 1952 và bà : Bùi Thị N, sinh năm 1954; Vợ: Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1981 (hiện đã ly hôn); Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 24/10/2019 bị Công an huyện B, tỉnh Đắk Lắk xử phạt hành chính hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi vi phạm an toàn thực phẩm trong kinh doanh dịch vụ.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp bắt tạm giam từ ngày 29/9/2024 cho đến ngày 13/12/2024 được bảo lĩnh tại khu phố Y, thị trấn V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn H: Bà Phan Thị H2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Địa chỉ: Số A P, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt).
- Đại diện gia đình người bị hại: Ông Nguyễn Công T, sinh năm 1959. Địa chỉ: Tổ dân phố E, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí. (Có mặt).
Trong vụ án này còn có bị cáo Lưu Văn H3, một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng nhưng không liên quan đến nội dung kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ 05 phút ngày 21/9/2024, tại ngã tư giao nhau có đèn tín hiệu cảnh báo màu vàng nhấp nháy giữa đường T (Quốc lộ H) và đường P, thuộc tổ dân phố G, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, lúc này trời có mưa nhỏ, đường được chiếu sáng bằng hệ thống đèn điện, Lưu Văn H3 (có giấy phép lái xe theo quy định), điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 50H-540.32 lưu thông trên đường T theo chiều hướng Đ - Hồ N, do không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại an toàn khi gặp cảnh báo nguy hiểm, qua nơi giao nhau với đường không ưu tiên dẫn đến va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 38N5-3100 do ông Nguyễn Văn K điều khiển, chở theo bà Đinh Thị T1 làm ông K và bà T1 ngã văng xuống đường. Ngay sau đó, Lưu Văn H3 không xuống xe, giữ nguyên hiện trường mà tiếp tục điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 50H-540.32 kéo theo xe mô tô 38N5-3100 đi vào làn đường ngoài cùng bên phải sát vỉa hè bên phải đường T. Cùng lúc đó, xe ô tô biển kiểm soát 29G-024.78 do Bùi Văn H (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển đang lưu thông trên đường T theo chiều hướng Đ - Hồ N, cũng không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại an toàn khi gặp cảnh báo nguy hiểm, qua nơi giao nhau với đường không ưu tiên dẫn đến đè qua người bà Đinh Thị T1 đang nằm ở làn đường dành cho xe cơ giới thứ nhất sát dải phân cách cứng giữa đường T. Hậu quả vụ tai nạn giao thông khiến bà Đinh Thị T1 bị tử vong tại chỗ, ông Nguyễn Văn K được đưa đi cấp cứu sau đó tử vong; xe mô tô biển kiểm soát 38N5-3100 và xe ô tô biển kiểm soát 50H-540.32 bị hư hỏng, thiệt hại trị giá lần lượt là 1.600.000 đồng và 2.500.000 đồng.
- Biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 21/9/2024 tại Km2+350 Quốc lộ H, đoạn thuộc tổ dân phố G, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh:
Hiện trường chung nơi xảy ra tai nạn là ngã tư giao nhau có tín hiệu đèn giữa đường T (Quốc lộ H) với đường P thuộc tổ dân phố G, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Đường T là đường đôi ở giữa có dải phân cách cứng bằng bê tông, phân chia thành hai chiều đi khác nhau, có tổng chiều rộng là 23m, đường thẳng, mặt đường được rải nhựa bằng phẳng, có hệ thống đèn đường chiếu sáng. Phần đường nơi xảy ra tai nạn nằm trên chiều đi Đ - Hồng Lĩnh được chia thành ba làn đường xe chạy bằng vạch kẻ đường màu trắng đứt quãng, có độ rộng lần lượt 3,55m, 3,5m và 3,1m. Mép bên phải đường T (chiều đi Đức Thọ H) ở phía trước tín hiệu đèn giao thông có biển báo “Người đi bộ sang ngang” (I.423b) và biển báo “Giao nhau với đường không ưu tiên” (W.207a). Đường P là đường hai chiều, không có vạch kẻ đường, được trải nhựa bê tông bằng phẳng, có chiều rộng 7m, điểm giao với đường Trần Phú rộng 13,5m, có hệ thống đèn đường nhưng chưa hoạt động, có đèn tín hiệu giao thông, mép bên phải đường chiều đi ra ngã tư có biển báo hiệu giao nhau với đường ưu tiên (W.208).
Lấy cột mốc Km H4/2 Quốc lộ H là điểm mốc. Mép đường bên phải theo chiều hướng Đức T2 đi Hồ N làm mép chuẩn. Sau khi tai nạn, vị trí nạn nhân, phương tiện, dấu vết tại hiện trường như sau:
+ Trên bề mặt đường nhựa của phần đường bên phải theo hướng Đ - Hồ N xuất hiện hai dấu vết phanh của lốp xe ô tô (ký hiệu số 1) có dạng đường thẳng liền, màu đen, chiều hướng từ hướng Tây sang Đ; khoảng cách giữa hai vết phanh là 2m. Vết phanh bên trái dài 19.5m, rộng 0,4m ở điểm đầu vết; điểm đầu vết phanh bên trái đo vào mép chuẩn là 6,6m, đo vào mép chuẩn là 25m, đo đến vạch dừng đèn tín hiệu 2,75m; điểm cuối vết phanh đo vào mép chuẩn là 9,55m. Vết phanh bên phải dài 11,4m, rộng 0,2m; điểm đầu vết phanh bên phải đo vào mép chuẩn là 6,2m, đo đến điểm đầu dấu vết phanh bên trái là 10,05m; điểm cuối vết phanh bên trái đo vào mép chuẩn là 7,85m.
+ Trên bề mặt đường nhựa của phần đường bên phải theo hướng Đ - Hồ N xuất hiện dấu vết trượt xước (ký hiệu số 2) có dạng đường thẳng đứt quãng, dài 0,33m, chiều hướng từ hướng Tây sang Đ. Đo từ điểm đầu vết số (2) vào mép chuẩn là 6,55m, đo đến điểm đầu vết phanh bên trái vết số (1) là 12,15m; điểm cuối vết số (2) đo vào mép chuẩn là 6,6m.
+ Trên bề mặt đường nhựa của phần đường bên phải theo hướng Đ - Hồ N có vùng mảnh vỡ nhựa (ký hiệu số 3) có kích thước (12,8 x 6)m. T4 vùng mảnh vỡ số (3) đo đến điểm cuối vết phanh bên phải vết số (1) là 4,9m, đo vào mép chuẩn là 7,65m.
+ Xe ô tô tải biển kiểm soát 50H-540.32 (ký hiệu số 4) dừng đỗ sát mép chuẩn, đầu xe quay về hướng Đ, đuôi xe hướng Tây. T4 trục bánh sau bên trái của xe đo đến tâm vùng mảnh vỡ số (3) là 11,8m, đo vào mép chuẩn là 2,2m; tâm trục bánh sau bên phải trùng với mép chuẩn. T4 trục bánh trước bên trái đo vào mép chuẩn là 3,15m, tâm trục bánh trước bên phải đo vào mép chuẩn là 0,6m.
+ Trên bề mặt đường nhựa của phần đường bên phải theo hướng Đ - Hồ N xuất hiện dấu vết cày (ký hiệu số 5) có dạng liền, vòng cung uốn lượn dài 23,3m, rộng 0,02m, chiều hướng từ Tây sang Đ. Điểm đầu vết cày (5) đo vào mép chuẩn là 5,4m, điểm cuối vết đo vào mép chuẩn là 2m. Điểm đầu vết cày (5) đo đến tâm trục bánh xe sau bên trái của xe ô tô tải (4) là 1,8m.
+ Nạn nhân (được xác định là bà Đinh Thị T1) nằm sấp trên mặt đường nhựa của làn xe cơ giới trong cùng thuộc phần đường bên phải theo hướng Đ - Hồ N được đánh số thứ tự (6), hai chân hướng Bắc, phần cổ nạn nhân hướng Nam. Tại hiện trường, phần đầu nạn nhân bị dập nát, đứt lìa rời khỏi cơ thể, xung quanh là máu và tổ chức cơ thể người, một phần cánh tay phải bị dập nát đứt lìa khỏi cơ thể. Đo từ phần cổ nạn nhân (6) đến điểm đầu vết số (5) là 4,7m, đo vào mép chuẩn là 7m. Điểm giữa hai chân nạn nhân vào mép chuẩn 8,6m.
+ Xe mô tô biển kiểm soát 38N5-3100 (ký hiệu số 7) nằm ngã nghiêng bên phải trên mặt đường T của phần đường bên phải theo hướng Đ - Hồ N. Vị trí xe mô tô (7) nằm giữa hai làn đường của làn đường xe cơ giới và xe thô sơ, đầu xe quay về hướng Đ, đuôi xe hướng T. T4 trục bánh sau của xe mô tô (7) đo đến vị trí cổ tử thi nạn nhân (6) là 18m, đo vào mép chuẩn là 2,5m; tâm trục bánh trước đo vào mép chuẩn là 3,75m.
+ Tại hiện trường trên bề mặt đường nhựa của làn xe cơ giới ở giữa thuộc phần đường bên phải theo hướng Đ - Hồ N, phát hiện dấu vết mảnh vỡ xương hộp sọ nạn nhân (ký hiệu số 8), kích thước (0,2 x 0,2)m. T4 vết (8) cách tâm trục bánh xe trước mô tô (7) là 1,7m, đo vào mép chuẩn là 4,1m.
+ Tại hiện trường trên bề mặt đường nhựa của làn xe cơ giới ở giữa thuộc phần đường bên phải theo hướng Đ - Hồ N phát hiện dấu vết mảnh vỡ xương hộp sọ nạn nhân (ký hiệu số 9) rải rác trên mặt đường kích thước (4,9x1,2)m, tâm vết (9) đo đến tâm vết (8) là 4,5m, đo mép chuẩn là 5,3m.
+ Xe ô tô tải biển kiểm soát 26H-006.40 (ký hiệu số 10) dừng đỗ trên làn đường xe cơ giới trong cùng (sát dải phân cách cứng) của phần đường bên phải theo hướng Đ - Hồ N, đầu xe quay hướng Đ, đuôi xe hướng Tây. T4 trục bánh sau bên phải xe ô tô đo đến tâm vết (9) là 6,9m, đo vào mép chuẩn là 7,25m. T4 trục bánh trước bên phải xe ô tô (10) đo vào mép chuẩn là 7,6m.
- Biên bản khám nghiệm tử thi bà Đinh Thị T1 ngày 21/9/2024, phản ánh: Thể trạng: Trung bình; chiều dài đỉnh - gót là 153cm.
Các dấu vết, tổn thương trên cơ thể:
+ Vùng đầu, mặt bị dập nát, biến dạng.
+ Gãy dập nát, biến dạng xương cột sống vùng cổ, ngực.
+ Vùng cổ phía sau có nhiều vết bầm tụ máu trên diện (15 x 12)cm.
+ Gãy sập xương sườn hai bên.
+ Vùng từ cánh tay xuống đến mu bàn tay bên phải có nhiều vết xây xát da, bầm tụ máu nằm rải rác.
+ Đứt lìa từ 1/3 giữa cánh tay bên trái, phần đứt lìa dập nát, biến dạng.
+ Gãy dập nát, biến dạng xương đùi bên phải.
+ Từ mặt trước gối lên bên trái xuống đến bàn chân có nhiều vết bầm tụ nằm rải rác.
+ Mặt trước ngoài cẳng chân phải, cách bờ dưới xương bánh chè 4cm, có vết thương kích thước (21 x 5)cm tại vị trí này gãy hai xương cẳng chân.
+ Vùng bàn chân phải có vết thương đứt lìa ngón cái.
Khám trong: Giải phẫu vùng đầu:
+ Dập nát da, cơ vùng đầu
+ Xương hộp sọ dập nát biến dạng.
+ Tổ chức não dập nát, biến dạng.
- Bản kết luận giám định pháp y số 1140/KL-KTHS ngày 22/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Nguyên nhân chết của bà Đinh Thị T1 là đa chấn thương.
+ Chấn thương vùng đầu gây dập nát, biến dạng vùng đầu, mặt và chấn thương vùng cổ - ngực gây dập nát, biến dạng đốt sống cổ, gãy sập xương sườn hai bên là nguyên nhân chính dẫn đến bà Đinh Thị T1 tử vong.
+ Các thương tích vùng đầu, cổ, ngực, cánh tay trái trên cơ thể bà Đinh Thị T1 là do cơ thể bị đè ép giữa mặt đường và vật tày (có thể là bánh xe). Có ít nhất hai lần đè qua cơ thể. Do đây là tai nạn liên hoàn, hệ thống thương tích nhiều và phức tạp nên không thể xác định được rõ ràng các thương tích trên cơ thể bà Đinh Thị T1 là có trước hay sau khi đè qua, do đó không đủ cơ sở xác định nạn nhân Đinh Thị T1 có tử vong hay không nếu không bị bánh xe đè qua.
- Biên bản khám nghiệm tử thi ông Nguyễn Văn K ngày 21/9/2024, phản ánh: Chiều dài tử thi 164cm, thể trạng: Trung bình.
Các dấu vết, tổn thương trên cơ thể:
+ Vùng chấm cách sau đỉnh vành tay trái 8cm, cách đường chân tóc gáy 5cm có vết bầm tụ máy kích thước (8 x 7)cm.
+ Vùng thái dương bên phải cách trên đỉnh vành tai phải 1cm, cách đuôi lông mày phải 4cm có đám sưng nề bầm tụ máu kích thước (8 x 7)cm.
+ Hốc mắt trái bầm tụ máu.
+ Vùng má, cằm bên phải cách dưới đuôi mắt phải 2cm có vết xây xát da, bầm tụ máu trên diện (15 x 9)cm
+ Gãy sập cung trước xương sườn 1,2,3,4,5,6,8 bên trái.
+ Mặt sau khuỷu tay hai bên có một số vết xây xát da nằm rải rác.
+ Mu bàn tay hai bên có một số vết xây xát da nằm rải rác.
+ Gãy kín 1/3 dưới xương đùi bên trái.
+ Từ mặt trước đầu gối xuống đến bàn chân hai bên có một số vết xây xát da, bầm tụ máu nằm rải rác.
Khám trong: Giải phẫu vùng đầu:
+ Tụ máu dưới da đầu vùng thái dương phải.
+ Vỡ xương hộp sọ.
- Bản kết luận giám định pháp y số 1141/KL-KTHS ngày 22/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Văn K: Đa chấn thương. Chấn thương vùng đầu gây vỡ xương hộp sọ và chấn thương vùng ngực trái gây gãy sập xương sườn là nguyên nhân chính dẫn đến ông Nguyễn Văn K tử vong.
- Biên bản khám nghiệm phương tiện xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển kiểm soát 38N5-3100 lập ngày 21/9/2024, phản ánh: Các dấu vết có liên quan đến vụ tai nạn giao thông để lại trên phương tiện gồm:
+ Cụm đèn chiếu sáng phía trước bị gãy, bung rời khỏi phương tiện.
+ Góc bên phải ốp tay lái phía trước có dấu vết gãy vỡ, kích thước (12 x 3)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 100 cm.
+ Gương chiếu hậu bên phải bị gãy, bung rời khỏi phương tiện. Mặt ngoài giá gắn gương có dấu vết mài trượt, kích thước (15 x 1)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 85cm.
+ Tay lái bên phải bị cong vênh chiều hướng phải qua trái, trước ra sau.
+ Góc bên trái ốp tay lái phía trước có dấu vết mài trượt và bám dính chất màu đỏ (dạng sơn), kích thước (12,5 x 4,5)cm, chiều hướng dấu vết từ trái sang phải, tâm dấu vết cách mặt đất 94cm.
+ Mặt gương chiếu hậu bên trái bị gãy bung rời khỏi phương tiện, ốp mặt gương có dấu vết nứt vỡ, có bám dính chất màu đỏ, kích thước (9 x 6)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 156cm.
+ Cánh ướm bên trái có dấu vết nứt vỡ, kích thước (8 x 6)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 54cm.
+ Ốp cao su bàn đạp chân phía trước bên trái bị gãy bung rời khỏi phương tiện.
+ Mặt ngoài bàn đạp phanh có dấu vết mài trượt, kích thước (3 x 1)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 27cm.
+ Mặt ngoài bàn đạp chân phía trước bên phải có dấu vết mài trượt rách cao su, kích thước (4 x 2,5)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 31cm.
+ Ốp thân xe bên trái có dấu vết nứt vỡ, trượt xước và bám dính chất màu đỏ (dạng sơn), kích thước (32 x 15)cm, chiều hướng dấu vết trái sang phải, tâm dấu vết cách mặt đất 63cm.
+ Mặt ngoài góc trái ốp tay lái phía sau có dấu vết nứt vỡ, trượt xước kích thước (14 x 12)cm, chiều hướng dấu vết từ trái sang phải, tâm vết cách mặt đất 98,5cm.
+ Phần đầu cân gạt gió bị gãy bung rời khỏi phương tiện, mặt ngoài có dấu vết trượt xước, kích thước (4,5 x 4)cm, chiều hướng trái sang phải, tâm dấu vết cách mặt đất 94cm.
+ Đầu mút tay lái bên trái có dấu vết trượt xước, kích thước (2 x 1)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 98,5cm, chiều hướng trái sang phải trên xuống dưới.
+ Mặt bên trái ốp tay lái phía trước có dấu vết kích thước (3 x 2)cm, chiều hướng từ trái sang phải, tâm vết cách mặt đất 93cm.
+ Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống phanh hoạt động bình thường, không kiểm tra được hệ thống đèn, còi.
- Biên bản khám nghiệm phương tiện xe ô tô tải nhãn hiệu CHENGLONG, biển kiểm soát 50H-540.32 lập ngày 21/9/2024, phản ánh: Các dấu vết có liên quan đến vụ tai nạn giao thông để lại trên phương tiện gồm:
+ Góc bên phải nắp capo phía trước có dấu vết trượt xước, móp lõm, bám dính chất màu trắng, kích thước (40 x 28)cm, chiều hướng trước ra sau. T4 vết cách mặt đất 155cm, cách mép bên phải thành đầu xe 51cm.
+ Ba đơ xốc phía trước (vị trí dưới biển kiểm soát) có dấu vết móp lõm, trượt xước mất sơn, kích thước (43 x 5)cm, chiều hướng dấu vết trước ra sau, tâm vết cách mặt đất 54cm, cách mép bên phải đầu xe là 98cm.
+ Góc bên phải ba đờ xốc phía trước bị bung rời các chốt định vị, mặt ngoài có dấu vết nứt vỡ, chiều hướng trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 81cm, cách mép bên phải 40cm.
+ Góc phía dưới ốp bên phải đầu xe có dấu vết nứt vỡ, kích thước (11 x 8,5)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 116cm.
+ Phần giữa của lưới tản nhiệt phía trước có dấu vết trượt xước, rách nhựa, kích thước (4,5 x 3)cm, chiều hướng trước ra sau, tâm vết cách mặt đất 94cm.
+ Mặt ngoài phần giữa của lưới tản nhiệt phía trước có dấu vết trượt xước, kích thước (6 x 2,5)cm, chiều hướng trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 105,5cm, cách mép bên phải đầu xe 93cm.
+ Mặt trước góc bên trái giàn nóng có dấu vết nứt vỡ; trượt xước kích thước (7 x 3)cm, chiều hướng trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 48cm.
+ Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống điều khiển, hệ thống hãm, đèn, còi, lốp, gương, gạt nước hoạt động bình thường Xe ô tô biển kiểm sát 50H-540.32 có lắp đặt hệ thống định vị giám sát hành trình, không có lắp đặt camera giám sát. Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ có hiệu lực đến hết ngày 14/8/2026.
- Biên bản khám nghiệm phương tiện xe ô tô tải nhãn hiệu JAC, biển kiểm soát 26H-00640 lập hồi 11 giờ 10 phút ngày 21/9/2024, phản ánh: Qua kiểm tra không phát hiện có dấu vết liên quan vụ tai nạn giao thông.
Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống điều khiển, hệ thống hãm, đèn, còi, lốp, gương, gạt nước hoạt động bình thường. Xe ô tô biển kiểm soát 26H-006.40 có lắp đặt hệ thống định vị giám sát hành trình, không lắp đặt camera giám sát. Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ có hiệu lực đến hết ngày 17/01/2025.
- Biên bản khám phương tiện xe ô tô tải nhãn hiệu HINO, biển kiểm soát 29G-024.78 lập hồi 09 giờ ngày 22/9/2024 phản ánh: Các dấu vết có liên quan đến vụ tai nạn giao thông để lại trên phương tiện gồm:
+ Góc phía dưới bên phải mặt trên chắn bùn bánh trước bên trái có bám dính mô cơ thể, chất màu nâu trên vùng kích thước (16 x 12)cm, tâm vết cao cách mặt đất 36cm. (Thu mẫu kí hiệu M1)
+ Mặt dưới góc phía dưới bên trái sàn thùng xe có dấu vết chất màu nâu dạng giọt bắn trên vùng kích thước (85 x 43,5)cm, chiều hướng dấu vết từ dưới lên trên, tâm dấu vết cao cách mặt đất 34cm. (Thu mẫu kí hiệu M2)
+ Mặt trước thành thùng dầu thứ hai bên trái có dấu vết bám dính chất màu nâu, kích thước (15 x 20)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 58cm. (Thu mẫu kí hiệu M3)
+ Mặt ngoài cung sau chắn bùn bánh phía trước bên trái có dấu vết bám dính chất màu nâu, kích thước (2 x 1,5)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 104cm. (Thu mẫu kí hiệu M4)
+ Mặt trong vành bánh phía trong hàng bánh thứ hai bên phải có dấu vết bám dính chất màu nâu, dạng giọt bắn, kích thước (5 x 2)cm. (Thu mẫu kí hiệu M5)
+ Mặt dưới phần bên trái sàn thùng xe (vị trí phía sau, trên thùng dầu thứ 2 bên trái) có bám dính chất màu nâu trên vùng kích thước (75 x 35)cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 126cm. (Thu mẫu kí hiệu M6)
+ Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống điều khiển, hệ thống hãm, đèn, còi, lốp, gương, gạt nước hoạt động bình thường. Xe ô tô có lắp đặt hệ thống định vị giám sát hành trình, không lắp đặt camera giám sát. Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ có hiệu lực đến hết ngày 28/01/2026.
- Bản kết luận giám định số 1156/KL-KTHS ngày 28/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Dấu vết màu nâu (kí hiệu M1) thu được trên xe ô tô tải biển kiểm soát 29G-024.78 gửi giám định là mẫu mô cơ thể người trong đó có dính máu nhóm B trong hệ thống nhóm máu ABO, cùng nhóm máu của mẫu máu thu từ tử thi Đinh Thị T1 (ký hiệu A1) gửi tới giám định so sánh.
Các chất màu nâu (kí hiệu M2, M3, M4, M5, M6) thu được trên xe ô tô tải biển kiểm soát 29G-024.78 gửi tới giám định là máu người thuộc nhóm B trong hệ thống nhóm máu ABO, cùng nhóm máu của mẫu máu thu từ tử thi Đinh Thị T1 (ký hiệu A1) gửi tới giám định so sánh.
- Bản kết luận giám định số 1190/KL-KTHS ngày 04/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận:
(1) Xe ô tô mang biển kiểm soát 50H-540.32 và xe mô tô mang biển kiểm soát 38N5-3100 có va chạm với nhau. Vị trí va chạm như sau:
+ Phần giữa lưới tản nhiệt phía trước (vị trí phía trên biển kiểm soát) xe ô tô mang biển kiểm soát 50H-540.32 va chạm với tay lái bên trái, góc bên trái ốp sau tay lái, cụm cần gạt gió xe mô tô mang biển kiểm soát 38N5-3100.
+ Góc bên phải ba đờ sốc phía trước xe ô tô mang biển kiểm soát 50H-540.32 va chạm với ốp thân phía bên trái xe mô tô mang biển kiểm soát 38N5-3100.
+ Xe ô tô mang biển kiểm soát 50H-540.32 và xe mô tô mang biển kiểm soát 38N5-3100 va chạm theo chiều vuông góc với nhau.
Vị trí va chạm giữa xe ô tô mang biển kiểm soát 50H-540.32 và xe mô tô mang biển kiểm soát 38N5-3100 nằm trong khu vực ngã tư giao nhau giữa đường T (Quốc lộ H) với đường P thuộc tổ dân phố G, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, thuộc phần đường phía bên phải đường T, theo chiều từ Đ đi Hồ N.
Không đủ cơ sở kết luận vị trí va chạm giữa xe ô tô mang biển kiểm soát 50H-540.32 và xe mô tô mang biển kiểm soát 38N5-3100 nằm trên làn đường nào.
(2) Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe ô tô mang biển kiểm soát 26H-006.40, xe ô tô mang biển kiểm soát 29G-024.78 với xe mô tô mang biển kiểm soát 38N5-3100.
(3) Không đủ cơ sở kết luận xe ô tô mang biển kiểm soát 50H-540.32, xe ô tô mang biển kiểm soát 26H-006.40 và xe ô tô mang biển kiểm soát 29G-024.78 có va chạm với ông Nguyễn Văn K và bà Đinh Thị T1 hay không.
- Bản Kết luận định giá tài sản số 10/KL-ĐGTS ngày 04/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã H, kết luận:
+ Trị giá thiệt hại xe mô tô biển kiểm soát 38N1-3100, nhãn hiệu Wave, màu sơn trắng – đen, số khung 350047, số máy 2075943, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông tại thời điểm xảy ra tai nạn ngày 21/9/2024 là 1.600.000 đồng.
+ Trị giá thiệt hại xe ô tô tải biển kiểm soát 50H-540.32, nhãn hiệu CHENGLONG, màu sơn đỏ, số khung LNXBEG052RL811, số máy YC4EG20050EJ1L4R10313, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông tại thời điểm xảy ra tai nạn ngày 21/9/2024 là 2.500.000 đồng.
+ Xe ô tô tải biển kiểm soát 29G-024.78, nhãn hiệu HINO, màu sơn trắng, số khung RNJFG8JT7PXL13631, số máy FG8JT7A-UTL/KMA-PL1, đã qua sử dụng, không có thiệt hại do tai nạn giao thông xảy ra ngày 21/9/2024.
+ Xe ô tô tải biển kiểm soát 26H-006.40, nhãn hiệu JAC, màu sơn trắng, số khung LJ11R2EF8M32032, số máy YC4EG2005OEJ1J9M00302, đã qua sử dụng, không có thiệt hại do tai nạn giao thông xảy ra ngày 21/9/2024.
- Kết quả xét nghiệm máu, nước tiểu của Trung tâm y tế thị xã H ngày 21/9/2024 phản ánh: Trong máu của ông Nguyễn Văn K, anh Cao Tấn H4, anh Lưu Văn H3, anh Nguyễn Trọng T3, anh Bùi Hồng H5, anh Bùi Văn H đều không có chất Ethanol.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã khắc phục đầy đủ, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì.
Với hành vi nêu trên, tại bản án sơ thẩm số 01/2024/HS-ST, ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đã tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lưu Văn H3, Bùi Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Về hình phạt:
+ Áp dụng điểm đ khoản 2, khoản 5 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 32, 38, 41 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lưu Văn H3 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2024 đến ngày 13/12/2024. Cấm bị cáo Lưu Văn H3 hành nghề lái xe trong thời gian 12 tháng kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
+ Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 32, 38, 41 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 29/9/2024 đến ngày 13/12/2024. Cấm bị cáo Bùi Văn H hành nghề lái xe trong thời gian 12 tháng kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp, án phí, quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/02/2025, bị cáo Bùi Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Bùi Văn H giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo và bổ sung kháng cáo yêu cầu Tòa án xem xét thêm hình phạt bổ sung cho bị cáo. Đại diện gia đình người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo. Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn H đề nghị Tòa án xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, bị cáo từng tham gia nghĩa vụ quân sự được S tặng thưởng giấy khen; bố đẻ là Bùi Đức D được Công an tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh T nhiều lần tặng giấy khen về thành tích đóng góp phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh và cũng cố khối đại đoàn kết các dân tộc trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; bác ruột là ông Bùi Hồng G là liệt sĩ; Ông nội là ông Bùi Ngọc C được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhì. Ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo, là lao động chính đang phải nuôi con nhỏ và bố mẹ già là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cân nhắc cho bị cáo hưởng án treo để lao động nuôi bố mẹ và con nhỏ cũng như trở thành người có ích cho xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H. Sửa Bản án sơ thẩm số 01/2025/HS-ST, ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ điểm c, khoản 2, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, xử phạt bị cáo Bùi Văn H 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
Tiếp tục tạm giữ 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 660040810645 mang tên Bùi Văn H do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 13/9/2022.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm nên có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 05 giờ 05 phút ngày 21/9/2024, tại ngã tư giao nhau có đèn tín hiệu cảnh báo màu vàng nhấp nháy giữa đường T (Quốc lộ H) và đường P, thuộc tổ dân phố G, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, lúc này trời có mưa nhỏ, đường được chiếu sáng bằng hệ thống đèn điện, Lưu Văn H3 (có giấy phép lái xe theo quy định), điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 50H-540.32 lưu thông trên đường T theo chiều hướng Đ - Hồ N, do không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại an toàn khi gặp cảnh báo nguy hiểm, qua nơi giao nhau với đường không ưu tiên dẫn đến va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 38N5-3100 do ông Nguyễn Văn K điều khiển, chở theo bà Đinh Thị T1 làm ông K và bà T1 ngã văng xuống đường. Ngay sau đó, Lưu Văn H3 không xuống xe, giữ nguyên hiện trường mà tiếp tục điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 50H-540.32 kéo theo xe mô tô 38N5-3100 đi vào làn đường ngoài cùng bên phải sát vỉa hè bên phải đường T. Cùng lúc đó, xe ô tô biển kiểm soát 29G-024.78 do Bùi Văn H (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển đang lưu thông trên đường T theo chiều hướng Đ - Hồ N, cũng không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại an toàn khi gặp cảnh báo nguy hiểm, qua nơi giao nhau với đường không ưu tiên dẫn đến đè qua người bà Đinh Thị T1 đang nằm ở làn đường dành cho xe cơ giới thứ nhất sát dải phân cách cứng giữa đường T. Hậu quả vụ tai nạn giao thông khiến bà Đinh Thị T1 bị tử vong tại chỗ, ông Nguyễn Văn K được đưa đi cấp cứu sau đó tử vong; xe mô tô biển kiểm soát 38N5-3100 và xe ô tô biển kiểm soát 50H-540.32 bị hư hỏng, thiệt hại trị giá lần lượt là 1.600.000 đồng và 2.500.000 đồng. Hành vi của các bị cáo Lưu Văn H3, Bùi Văn H đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9, điểm c khoản 3 Điều 10 Luật giao thông đường bộ; khoản 1, 3, 5, 11 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Vì vậy, Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Lưu Văn H3 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2, khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự và bị cáo Bùi Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn H là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tính mạng và tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo Lưu Văn H3 là nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn giao thông làm ông Nguyễn Văn K và Đinh Thị T1 ngã ra đường, sau đó đã không kịp thời giữ nguyên hiện trường, bảo vệ các nạn nhân dẫn đến hậu quả làm chết hai người và thiệt hại về tài sản cho người bị hại nên phải chịu trách nhiệm chính. Đối với bị cáo Bùi Văn H lái xe trong thời tiết có mưa nhỏ, không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn, không chú ý quan sát khi xe vào ngã tư giao nhau có biển cảnh báo nguy hiểm, có đèn tín hiệu vàng nhấp nháy nên đã lái xe ô tô đè lên người bà Đinh Thị T1 nên cũng phải trách nhiệm với bị cáo Lưu Văn H3 về hậu quả làm bà T1 tử vong. Mặt khác, sau khi gây tai nạn, bị cáo đã bỏ trốn nhằm trốn tránh trách nhiệm. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung “Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm” theo điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, mức hình phạt 36 tháng tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo Bùi Văn H là phù hợp.
Xét thấy trong vụ án này hành vi của bị cáo Bùi Văn H không phải là nguyên nhân chính gây ra tai nạn, sau khi gây ra tai nạn bị cáo đã bỏ trốn khỏi hiện trường. Tuy nhiên, sau đó bị cáo đã nhận thức được sai phạm, thành khẩn khai báo, việc bị cáo rời khỏi hiện trường một phần do tâm lý sợ hãi; bên cạnh đó, việc bị cáo Lưu Văn H3 không giữ nguyên hiện trường mà vẫn điều khiển xe ô tô sang bên phải đường cũng là nguyên nhân dẫn đến bị cáo Hà khó tránh khỏi gây tai nạn. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo Bùi Văn H đã thành thành khẩn khai báo, dù hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng đã tác động người thân trong gia đình bồi thường thiệt hại cho đại diện gia đình bị hại; đại diện gia đình bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị hại cũng có một phần lỗi dẫn đến tai nạn. Mặt khác, bị cáo Bùi Văn H từng tham gia nghĩa vụ quân sự được S tặng thưởng giấy khen; bố đẻ là Bùi Đức D được Công an tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh T nhiều lần tặng giấy khen về thành tích đóng góp phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh và cũng cố khối đại đoàn kết các dân tộc trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; bác ruột là ông Bùi Hồng G là liệt sĩ; Ông nội là ông Bùi Ngọc C được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhì. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp tài liệu, chứng cứ mới gồm: Giấy chứng nhận hộ nghèo; Đơn trình bày và xin hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện gia đình bị cáo Bùi Văn H thuộc hộ nghèo, bị cáo có thu nhập không ổn định, là lao động chính trong gia đình, nuôi cha mẹ trên 70 tuổi. Ngoài ra bị cáo Bùi Văn H đang phải cấp dưỡng nuôi các con cho đến khi các con đủ 18 tuổi theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự ngày 30/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đô. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Bùi Văn H được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nơi cư rõ ràng. Vì vậy, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần cải biện pháp chấp hành án, cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện để bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương tại nơi cư trú, nhằm thể hiện sự khoan hồng và tính nhân đạo của pháp luật đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Xét thấy cần tiếp tục tạm giữ 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 660040810645 mang tên Bùi Văn H do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 13/9/2022, có giá trị đến ngày 13/9/2027 trong thời gian các bị cáo Bùi Văn H bị cấm lái xe ô tô để đảm bảo việc thi hành án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật
5 Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H được chấp nhận, đồng thời bị cáo thuộc hộ nghèo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H. Sửa Bản án sơ thẩm số 01/2025/HS-ST, ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt Bùi Văn H 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Giao bị cáo Bùi Văn H cho UBND xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nếu người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giữ 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 660040810645 mang tên Bùi Văn H do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 13/9/2022, có giá trị đến ngày 13/9/2027. (Tình trạng và đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/12/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã H và Chi cục THADS thị xã H).
3. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - TA, VKS, Công an, THA sơ thẩm; - Sở tư pháp Hà Tĩnh; - Phòng PV 06 CA tỉnh Hà Tĩnh; - Bị cáo; đại diện gia đình bị hại; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |