- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày 27 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Duy
Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Nhạn
Ông Sơn Hoài Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Loan, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Linh - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN VĂN T, sinh ngày 16/4/1997 tại Cà Mau. Nơi cư trú: Khóm I, Phường I, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1967 và bà Chiêm Thị T2, sinh năm 1973; tiền án: Không; tiền sự: 01 lần, vào ngày 16/11/2023 bị Ủy ban nhân dân phường Hộ Phòng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ-XPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 2.500.000 đồng, đã đóng phạt ngày 02/4/2024. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/01/2025 đến nay, (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1967. Địa chỉ: Khóm I, Phường I, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, (có mặt).
2. Bà Chiêm Thị T2, sinh năm 1973. Địa chỉ: Khóm I, Phường I, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 17/7/2024, Chiêm Văn Tr rủ Nguyễn Văn T góp tiền mua ma túy cùng nhau sử dụng nhưng T không đồng ý. Tr mượn của T số tiền 150.000 đồng, kêu T chở đến hẻm 14, khóm I, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu để mua ma túy và trả tiền xe cho T 50.000 đồng, T đồng ý. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66F1 - 445.81 chở Tr đến hẻm 14, khóm I, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, T đậu xe tại ngã tư trong hẻm 14, Tr đi bộ vào trong hẻm mua ma túy của người thanh niên (không rõ họ, tên). Mua ma túy xong, Tr giữ ma túy trong lòng bàn tay, đi bộ ra gặp T để về nhà, khi xe vừa chạy đến đầu hẻm 14 thì bị lực lượng Công an phát hiện, Tr dùng tay ném xuống đường 01 (một) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, kích thước 3.5cm x 01cm bên trong có chưa các hạt tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma túy thì bị bắt quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 88/KL-KTHS ngày 12/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu kết luận: Chất rắn màu trắng dạng, tinh thể bên trong 01 (một) đoạn ống hút nhựa (kí hiệu M) là chất ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng là 0,13276 gam
Cáo trạng số 23/CT-VKS-HS, ngày 28/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, truy tố để xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm tù đến 02 năm tù
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi: 88GĐMT-2024 có chữ ký của Quách Thanh Toán và bốn dấu hình tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu
- Trả lại cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Chiêm Thị T2: 01 (một) xe mô tô Sirius màu đen, biển kiểm soát 66F1-445.81
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, nên hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Căn cứ biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo, kết luận giám định, cùng với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 17/7/2024, bị cáo Nguyễn Văn T chở Chiêm Văn Tr sinh ngày 01/01/2011 đến hẻm 14 thuộc Khóm I, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu để mua ma túy của một người thanh niên (không rõ lai lịch) về sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, qua giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,13276 gam. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo cũng như đảm bảo công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, khi quyết định hành phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm mà bị cáo được hưởng là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.
Về xử lý vật chứng: Chấp nhận như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Như đã phân tích, có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
Đối với Chiêm Văn Tr, sinh ngày 01/01/2011 (tính đến ngày 17/7/2024 là 13 tuổi 06 tháng 16 ngày) chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bạc Liêu không đề cập xử lý là đúng quy định pháp luật.
Đối với Người thanh niên (không rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bạc Liêu đã tách hành vi để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 16/01/2025.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
3.1. Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi: 88GĐMT-2024 có chữ ký của Quách Thanh Toán và bốn dấu hình tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu
3.2. Trả lại cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Chiêm Thị T2: 01 (một) xe mô tô Sirius màu đen, biển kiểm soát 66F1-445.81
(Hiện đồ vật, tài sản nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 14/5/2025).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu (01b); - VKSND tỉnh Bạc Liêu (01b); - VKSND thị xã Giá Rai (01b); - CQĐT Công an tỉnh Bạc Liêu (01b); - CCTHADS thị xã Giá Rai(01b); - Bị cáo (01b); - NCQL, NVLQ (02b) - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tuấn Duy |