vanban.org

Bản án 29/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vũ Đình S ly hôn chị Hoàng Thị T.

Về con chung: Giao cho anh Vũ Đình S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục cả hai con chung là Vũ Thị Mai T, sinh ngày 05/12/2009,Vũ Hoàng Bảo K, sinh ngày 12/01/2019 cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Sử không yêu cầu chị Thƣ phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ Vũ Đình S - Hoàng Thị T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vũ Đình S ly hôn chị Hoàng Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH HẢI DƢƠNG
Bản án số: 29/2025/HNGĐ - ST
Ngày 13/6/2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đàm Nhân Trác.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quang Liêm và bà Nguyễn Thị Hồng

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ - tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 83/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST - HNGĐ ngày 29/5/2025 giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Anh Vũ Đình S, sinh ngày 01/7/1981; địa chỉ: Thôn Kim Đ, xã Kỳ S, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng. Số CCCD xxxxxxxxxxxx.

- Bị đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh ngày 16/5/1985; địa chỉ: Thôn Kim Đ, xã Kỳ S, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng. Số CCCD xxxxxxxxxxxx. (Anh Sử, chị Thư đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn anh Vũ Đinh Sử trình bày: Anh và chị Hoàng Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện đƣợc UBND xã Lộc Hƣng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phƣớc đăng ký và đƣợc cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 14/6/2004. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại Bình Phƣớc đến đầu năm 2021 về quê Tứ Kỳ sinh sống, cuộc sống vợ chồng vui vẻ hạnh phúc đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, chị Thƣ chơi bời cờ bạc, có thái độ không tôn trọng chồng và gia đình chồng, chị không quan tâm chăm lo gì đến gia đình, chị đã tự ý bỏ chồng, bỏ các con đi, vợ chồng sống ly thân 03 năm nay. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên anh làm đơn khởi kiện xin ly hôn chị Thƣ.

Về con chung: Anh và chị Thƣ có ba con chung là Vũ Thị Thanh H, sinh ngày 04/7/2005 và Vũ Thị Mai T, sinh ngày 05/12/2009, Vũ Hoàng Bảo K, sinh ngày 12/01/2019. Hiện cháu Huyền đã trƣởng thành, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu Trang, cháu Khánh đang ở với anh, khi ly hôn anh đề nghị đƣợc nuôi hai con, anh tự nguyện không yêu cầu chị Thƣ cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai của bà Đặng Thị Thịnh (mẹ đẻ anh Sử) trình bày: Năm 2004 anh Sử kết hôn với chị Hoàng Thị T việc kết hôn của anh chị là tự nguyện đƣợc UBND xã Lộc Hƣng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phƣớc nơi anh chị làm việc đăng ký và đƣợc cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn anh Sử, chị Thƣ sinh sống tại Bình Phƣớc đến đầu năm 2021 anh Sử đƣa vợ con về quê Tứ Kỳ sinh sống. Hiện tại anh Sử, chị Thƣ và các con của anh chị đều có hộ khẩu thƣờng trú tại thôn Kim Đôi, xã Kỳ Sơn, huyện Tứ Kỳ. Cuộc sống vợ chồng vui vẻ hạnh phúc đƣợc thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, mỗi ngƣời có cách sống riêng nên không ai chịu ai, chị Thƣ chơi bời số đề nợ nần, không tôn trọng chồng và gia đình. Cuối năm 2021 chị Thƣ đã bỏ chồng, bỏ con đi, không quan tâm chăm lo gì đến gia đình, anh Sử chị Thƣ đã ly thân hơn 03 năm nay, một mình anh Sử nuôi 03 con, chị Thƣ không chút trách nhiệm nào. Nay anh Sử có đơn xin ly hôn chị Thƣ bà đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Sử, chị Thƣ ly hôn để anh chị sớm ổn định cuộc sống. Nếu trong trƣờng hợp tòa án giải quyết cho anh Sử, chị Thƣ ly hôn, bà đề nghị Tòa án giao cháu Trang, cháu Khánh cho anh Sử nuôi dƣỡng, anh Sử có chỗ ở ổn định, hàng ngày bà sẽ phụ giúp anh Sử trong việc trông nom, chăm sóc các con của anh Sử.

Tại biên bản lấy lời khai của bà Trịnh Thị Mến (mẹ đẻ chị Thư) trình bày: Chị Thƣ và anh Sử kết hôn với nhau là tự nguyện và đƣợc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng vui vẻ hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Sử không chịu làm ăn, thƣờng xuyên uống rƣợu chửi bới chị vì lý do đó chị Thƣ không chịu đƣợc đã bỏ nhà đi, vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2021 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Hiện tại chị Thƣ đi đâu, làm gì bà không biết, thỉnh thoảng chị Thƣ vẫn liên lạc với bà và các con của chị Thƣ. Nay anh Sử có đơn xin ly hôn chị Thƣ bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để anh chị sớm ổn định cuộc sống. Anh Sử, chị Thƣ có ba con chung là Vũ Thị Thanh H, sinh ngày 04/7/2005 và Vũ Thị Mai T, sinh ngày 05/12/2009,Vũ Hoàng Bảo K, sinh ngày 12/01/2019. Hiện cháu Huyền đã trƣởng thành, cháu Trang, cháu Khánh đang ở với anh Sử, khi ly hôn bà đề nghị để anh Sử nuôi cả hai con, tiền nuôi con trƣớc khi đi chị Thƣ đã để lại cho anh Sử, sau này chị Thƣ về anh chị sẽ tự giải quyết, bà không có ý kiến gì.

Kết quả xác minh tại Uỷ ban nhân dân xã Kỳ Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xác định: Anh Sử và chị Thƣ kết hôn với nhau tại xã Lộc Hƣng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phƣớc vào năm 2004 việc kết hôn của anh chị là hợp pháp. Đầu 2021 anh chị về quê Tứ Kỳ sinh sống và làm việc, cuộc sống vợ chồng vui vẻ hạnh phúc đến cuối năm 2021 không biết lý do gì chị Thƣ đã bỏ nhà đi, chị không chăm lo gì cho các con, anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay. Do anh chị ít có thời gian sống ở địa phƣơng nên mâu thuẫn vợ chồng anh chị thế nào địa phƣơng không nắm đƣợc. Nay anh Sử có đơn xin ly hôn chị Thƣ, theo quan điểm của địa phƣơng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa: Anh Sử đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm nhƣ đã trình bày. Chị Thƣ đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thƣ ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Vũ Đình S, đề nghị xử cho anh Vũ Đình S ly chị Hoàng Thị T; Về con chung: Giao cho anh Vũ Đình S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con là Vũ Thị Mai T, sinh ngày 05/12/2009,Vũ Hoàng Bảo K, sinh ngày 12/01/2019 đến khi các con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Sử không yêu cầu chị Thƣ phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con. Về án phí: Anh Sử phải chịu án phí theo quy của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:

Về tố tụng: Anh Vũ Đình S khởi kiện ly hôn chị Hoàng Thị T; nơi ĐKHKTT: Thôn Kim Đ, xã Kỳ S, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

Trong quá trình giải quyết do chị Thƣ vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải đƣợc. Tại phiên tòa anh Sử có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị Thƣ đã đƣợc triệu tập hợp lệ vắng mặt lần thứ 2; Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đƣơng sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Đình S và chị Hoàng Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Hƣng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phƣớc vào ngày 14/6/2004. Nhƣ vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh Sử và chị Thƣ là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ lời khai của anh Sử và đại diện gia đình anh Sử, chị Thƣ và kết quả xác minh tại địa phƣơng, HĐXX xác định trong cuộc sống anh chị đã có mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tôn trọng nhau, không quan tâm đến nhau, anh chị đã có thời gian dài sống ly thân. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy thực tế tình trạng hôn nhân giữa anh Sử và chị Thƣ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy, căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho anh Sử ly hôn chị Thƣ là phù hợp.

Về con chung: Anh Sử, chị Thƣ có ba con chung là Vũ Thị Thanh H, sinh ngày 04/7/2005 và Vũ Thị Mai T, sinh ngày 05/12/2009,Vũ Hoàng Bảo K, sinh ngày 12/01/2019. Hiện cháu Huyền đã trƣởng thành, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết, cháu Trang, cháu Khánh đang ở với anh Sử, khi ly hôn anh Sử đề nghị Tòa án giao con Vũ Thị Mai T và Vũ Hoàng Bảo K, cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng và anh tự nguyện không yêu cầu chị Thƣ phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con; nguyện vọng của cháu Trang muốn đƣợc ở với anh. Xét thấy, con chung đang ở ổn định với anh Sử, do vậy, HĐXX cần giao con chung Vũ Thị Mai T và Vũ Hoàng Bảo K, cho anh Sử tiếp tục chăm sóc, nuôi dƣỡng, chấp nhận sự tự nguyện của anh Sử không yêu cầu chị Thƣ phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con là phù hợp quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về tài sản chung: Anh Sử xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Anh Sử khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều: 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vũ Đình S ly hôn chị Hoàng Thị T.

2. Về con chung: Giao cho anh Vũ Đình S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục cả hai con chung là Vũ Thị Mai T, sinh ngày 05/12/2009,Vũ Hoàng Bảo K, sinh ngày 12/01/2019 cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Sử không yêu cầu chị Thƣ phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con.

Chị Hoàng Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.

3. Về án phí: Anh Vũ Đình S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sơ thẩm (Hôn nhân gia đình) đƣợc đối trừ số tiền anh đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002220 ngày 19/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Anh Sử đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày đƣợc giao bản án hoặc từ ngày bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ