- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ Đào Thị Đ và Nguyễn Văn M - Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Đào Thị Đ được ly hôn Anh Nguyễn Văn M.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊNLẠC TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2025/HNGĐ – ST Ngày 11 - 6 - 2025 “V/v Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hằng và ông Đoàn Văn Đoan.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòà án nhân dân huyện Yên Lạc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2025/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 về ly hôn, nuôi con chung; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đào Thị Đ, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện Y tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện Y tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 9 năm 2024 và những lời khai trong quá trình làm việc cũng như tại phiên tòà, nguyên đơn Chị Đào Thị Đ trình bày:
Về hôn nhân: Chị và Anh Nguyễn Văn M đăng ký kết hôn ngày 21/10/2022, tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Sau ngày cưới chị về làm dâu nhà anh M và vợ chồng chung sống cùng gia đình nhà anh M. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng hòa thuận, tháng 01/2023 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh M chơi bời không quan tâm đến gia đình, chị có khuyên bảo nhưng anh M không nghe. Sau nhiều lần mâu thuẫn đến khoảng tháng 7/2023 chị và anh M đã sống ly thân kể từ đó đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh M, chị tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh M.
Về con chung: Chị và anh M có 01 con chung là Nguyễn Đào Khôi N, sinh ngày 06/9/2023, hiện nay cháu N đang ở cùng chị. Ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc cháu N, không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn Anh Nguyễn Văn M: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án, bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu giấy tờ kèm theo đồng thời triệu tập anh M rất nhiều lần; thậm chí để vụ án được giải quyết một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan và đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự Tòa án đã gửi công văn nêu rõ nội dung vụ án để anh M đến Tòa trực tiếp trình bày ý kiến của mình về từng vấn đề, nội dung cụ thể theo đơn khởi kiện của chị Đ nhưng anh M không đến Tòa án làm việc và cũng không gửi ý kiến quan điểm đến Tòa.
Ngày 22 tháng 4 năm 2025, Tòa án tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Yên Phương cho biết: Chị Đào Thị Đ và Anh Nguyễn Văn M có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 21 tháng 10 năm 2022. Sau khi kết hôn vợ chồng anh M chung sống cùng gia đình anh M tại Thôn Yên Thư, xã Yên Phương. Quá trình chung sống, thời gian đầu thấy anh chị sống hòa thuận, đến khoảng năm 2023 địa phương thấy chị Đ và anh M mâu thuẫn, còn nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không biết. Về con chung: Chị Đ và anh M có 01 con chung là cháu Nguyễn Đào Khôi N, được đăng ký khai sinh tại UBND xã ngày 06/9/2023. Nay chị Đ xin ly hôn anh M, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định; người tham gia tố tụng, anh M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa không lý do; chị Đ đã chấp hành đúng các qui định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử cho Chị Đào Thị Đ được ly hôn Anh Nguyễn Văn M; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đào Khôi N, sinh ngày 06/9/2023 cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị Đ không yêu cầu.
Về án phí: chị Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Đào Thị Đ khởi kiện yêu cầu xin được ly hôn Anh Nguyễn Văn M và phân chia nuôi con chung, do đó đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. Bị đơn anh M đang cư trú tại Thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung" được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần hai, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Căn cứ vào lời trình bày của chị Đ và kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc thể hiện chị Đ, anh M có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Yên Phương ngày 21tháng 10 năm 2022, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Đ, anh M là hợp pháp. Quá trình chung sống, do luôn bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hàng ngày và anh M không chỉn chu làm ăn, chơi bời nên phát sinh mâu thuẫn. Trong những lần làm việc tại Tòa án và tại phiên toà chị Đ đều khẳng định tình cảm vợ chồng với anh M không còn, việc đoàn tụ là không thể, do đó chị tha thiết đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn với anh M. Xét, cuộc sống chung giữa chị Đ và anh M không thể tiếp tục vì mâu thuẫn giữa anh, chị xảy ra đã lâu. Do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đ để anh, chị có điều kiện tạo lập cuộc sống mới.
Về nuôi con chung: Chị Đ và anh M có 01 con chung là Nguyễn Đào Khôi N, sinh ngày 06/9/2023; hiện nay cháu N đang ở cùng chị Đ. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị Đ xin được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu N, chứng minh nuôi con tốt về mọi mặt và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung. Xét nguyện vọng xin nuôi con chung của chị Đ là hoàn toàn tự nguyện, thực tâm và cũng là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con, do đó giao cháu N cho chị Đ tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng; anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị Đ không có yêu cầu và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở, gây khó khăn.
Về tài sản: Chị Đ và anh M không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Sau khi ly hôn, nếu các đương sự có đề nghị về tài sản thì Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo qui định của pháp luật.
Về án phí sơ thẩm: Chị Đ phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc về giải quyết vụ
án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chị Đào Thị Đ được ly hôn Anh Nguyễn Văn M.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đào Khôi N, sinh ngày 06/9/2023 cho chị Đ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, anh M không phải cấp dưỡng nuôi cong chung và có quyền và nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở và gây khó khăn.
Về án phí: Chị Đào Thị Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003548 ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc; Chị Đ đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt cũng có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt hợp lệ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND huyện Yên Lạc;
- Chi cục THADS huyện Yên Lạc;
- UBND xã Yên Phương;
- Lưu: HS, VP.
Trần Thị Lan Thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Trần Thị Lan
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Yên Lạc; - Chi cục THADS huyện Yên Lạc; - UBND xã Đồng Cương; - Lưu: HS, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lan |