- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về con chung"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị D.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2025 /HNGĐ-ST Ngày: 29 – 4 – 2025 . Về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mai.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết, ông Lê Khắc Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Quốc Nam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2025, Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 510/2024 /TLST - HNGĐ, ngày 13 tháng 12 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXX-ST, ngày 18/03/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 10/4/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hà Thị D, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Thôn F, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Mai Văn C, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Thôn F, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 29/11/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hà Thị D trình bày:
- Về hôn nhân: Bà D và ông Mai Văn C chung sống với nhau từ năm 2003, trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc và có tổ chức lễ cuối theo phong tục tại địa phương. Đến ngày 06/02/2007 đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk và đã được cấp giấy đăng ký kết hôn số 20/07, quyển số 01 ngày 06/02/2007. Trong thời gian chung sống cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc đến cuối năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn và kéo dài. Theo bà D nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung và vợ chồng thường xuyên cãi nhau nên đến năm 2023 bà D đã làm đơn ly hôn ông C tại Tòa án. Sau khi nộp đơn vì con chung nên bà D đã rút đơn khởi kiện để vợ chồng tiếp tục chung sống nuôi dạy con cái, nhưng từ đó cho đến nay cuộc sống chung của vợ chồng không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng hơn. Do đó, bà D xét thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và hiện nay vợ chỗng đã sống ly thân mỗi người sống một nơi nên bà D có nguyện vọng xin được ly hôn với ông Mai Văn C.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống bà D và ông C có 03 con chung là Mai Thị L, sinh ngày 16/3/2004; Mai Hoàng Văn T, sinh ngày 03/5/2006 và Mai Văn Q, sinh ngày 10/6/2009. Hiện nay cháu Q còn nhỏ và có nguyện vọng xin được ở cùng mẹ nên bà D có nguyện vọng xin được nuôi con chung là Mai Văn Q, sinh ngày 10/6/2009 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; về cấp dưỡng nuôi con chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với các con chung là Mai Thị L, sinh ngày 16/3/2004 và Mai Văn T, sinh ngày 03/5/2006, hiện nay đã trên 18 tuổi nên bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng ông Mai Văn C đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 209 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành phiên họp và hòa giải vắng mặt đối với bị đơn ông Mai Văn C. Căn cứ Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận:
- Nguyên đơn bà Hà Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn ông Mai Văn C vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký, nguyên đơn, đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của BLTTDS. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Mai Văn C mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham gia phiên phiên tòa là vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật hôn nhân gia đình, đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị D; về hôn nhân: cho bà Hà Thị D được ly hôn với ông Mai Văn C; về con chung: giao con chung là Mai Văn Q, sinh ngày 10/6/2009 cho bà Hà Thị D nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến khi đủ 18 tuổi; đối với các con chung là Mai Thị L, sinh ngày 16/3/2004 và Mai Văn T, sinh ngày 03/5/2006 hiện nay đã trên 18 tuổi, bà D không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết; về cấp dưỡng nuôi con bà D không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết; về án phí nguyên đơn phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
. Xét về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện của bà Hà Thị D, ghi ngày 29/11/2024, Tòa án nhân dân huyện Ea Kar xác định quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung được quy định tại khoản 1 Điều 28 của BLTTDS. Xét thấy bị đơn ông Mai Văn C, cư trú tại thôn F, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Toà án nhân dân huyện Ea Kar thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Xét thấy, Tòa án nhân dân huyện Ea Kar đã tống đạt hợp lệ cho ông Mai Văn C: Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn ông Mai Văn C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Tại phiên tòa nguyên đơn bà Hà Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227; Điều 228 của BLTT DS, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật
. Xét về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thị D và ông Mai Văn C đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C vào ngày 06/02/2007 trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo xác minh tại địa phương và lời khai của bà D thì trong thời gian sống chung vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi nhau, bà D xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ và trong năm 2023 bà D đã làm đơn ly hôn với ông Mai Văn C đã được Tòa án đình chỉ theo quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 25/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 29/03/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Hà Thị D và ông Mai Văn C lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Hà Thị D là có căn cứ, phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận. [2.2]. Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án, bà Hà Thị D có nguyện vọng xin được nuôi con chung là Mai Văn Q, sinh ngày 10/6/2009. Xét thấy nguyện vọng xin nuôi con chung của bà D phù hợp với nguyện vọng của con chung Mai Văn Q. Vì vậy, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung là Mai Văn Q, sinh ngày 10/6/2009 cho bà Hà Thị D trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc là phù hợp với quy định của pháp luật. Ông Mai Văn C được quyền đi lại thăm nom con chung, bà D không được cản trở, tuy nhiên ông C không được lạm dụng việc thăm nom con chung để gây cản trở đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung; vì lợi ích của con chung khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu. Do đó, HĐXX không đặt ra giải quyết.
- Đối với các con chung là Mai Thị L, sinh ngày 16/3/2004 và Mai Văn T, sinh ngày 03/5/2006 đã trên 18 tuổi nên nguyên đơn bà D không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
. Về tài sản chung và nợ chung: Quá trình thu thập chứng cứ, đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Bà Hà Thị D phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét ý kiến quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật nên HĐXX chấp nhận toàn bộ ý kiến quan điểm của Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27, tiểu mục 1.1 mục 1 phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, về án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị D.
1. Về hôn nhân: Xử cho bà Hà Thị D được ly hôn với ông Mai Văn C.
2. Về con chung: Giao con chung là Mai Văn Q, sinh ngày 10/6/2009 cho bà Hà Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Mai Văn C được quyền đi lại thăm nom con chung, bà D không được cản trở, tuy nhiên ông C không được lạm dụng việc thăm nom con chung để gây cản trở đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung; vì lợi ích của con chung khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu. Do đó, HĐXX không đặt ra giải quyết.
Đối với các con chung là Mai Thị L, sinh ngày 16/3/2004 và Mai Hoàng Văn T, sinh ngày 03/5/2006 đã trên 18 tuổi, đương sự không yêu cầu. Do đó, HĐXX không đặt ra giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu. Do đó, HĐXX không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Bà Hà Thị D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0000877 ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk - VKSND huyện EaKar - Chi cục THADS huyện EaKar - Các đương sự - UBND xã Cư ELang; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Võ Thị Mai |