- Tranh chấp gì? án hình sự — "NĐS phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày: 22/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tưởng Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phùng Văn Tầu
Ông Nguyễn Đình Hiền
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hường -Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà
Hoàng Thị Thu Giang - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 369/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HS ngày 08/01/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: NĐS, sinh năm 1991; giới tính: Nam; HKTT: thôn 20, xã Quỳnh Văn,. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; con ông NĐƯ (đã chết); con bà NTL, sinh năm 1960. Anh chị em ruột có 3 người, bị cáo là con thứ 3. Vợ, con: chưa có.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2015/HSST ngày 02/2/2015 của TAND huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An và Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 27/2015/HSPT-QĐ ngày 19/3/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2017.
Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2019/HSST ngày 26/3/2019 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/7/2022.
Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị ĐTTV, sinh năm 1973; trú tại: số 18A, Ngõ 1, Cầu Bươu. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 11/9/2013 tại ngã tư Phùng Hưng, đường Tô Hiệu, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, Công an phường Phúc La phối hợp cùng tổ công tác Y11-141 Công an thành phố Hà Nội thấy NĐS có biểu hiện nghi vấn đã tiến hành kiểm tra phát hiện S thả từ tay trái xuống đất 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy, Công an phường Phúc La đã tiến hành lập biên bản và đưa S về Công an phường Phúc La. Tại đây S khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 11/9/2023 Sự điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đen, BKS 29E2-579.61 đi từ khu vực cầu Vĩnh Tuy, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng đến khu vực ngã tư phố Đạm Phương, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi S gặp và mua của một người nam giới không quen biết đứng ở lề đường 01 túi nilong bên trong chứa bột màu trắng là ma túy tổng hợp với giá 2.000.000đ. Mua xong S điều khiển xe đi về khu vực quận Hà Đông tìm nơi sử dụng thì bị kiểm tra bắt giữ.
Vật chứng thu giữ: - 01 túi nilông màu trắng kích thước 5x8cm bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy.
-01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave Alpha, sơn màu đen, BKS 29E2-579.61, số máy JA39E-1111089, số khung RLHJA1919KY0369 đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 6208/KL-KTHS ngày 19/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilong màu trắng là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 2,344gam.
Về nguồn gốc ma túy: NĐS khai mua của một người nam giới không quen biết . Quá trình điều tra, ngoài lời khai của S không co tài liệu chứng cứ nào khác nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh khi nào làm rõ xử lý sau.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha sơn màu đen, BKS 29E2-579.61, số máy JA39E-1111089, số khung RLHJA1919KY0369 thu giữ của NĐS là phương tiện S đã sử dụng để đi mua ma túy. Kết quả điều tra xác định chiếc xe máy được đăng ký sở hữu mang tên anh ĐĐB, sinh năm 1997; địa chỉ: phường Cát Linh. Anh B khai anh mua chiếc xe máy trên năm 2019 đến năm 2022 bán chiếc xe máy trên với giá 14.700.000đ cho chị ĐTTV, sinh năm 1973; trú tại: tập thể gạch Đại Thanh, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội (là bạn quen biết với S) có giấy tờ mua bán nhưng hiện đã mất không còn lưu giữ. Ngày 11/9/2023 S mượn xe máy của chị V để đi có việc, chị V không biết S sử dụng xe vào việc đi mua ma túy, xe không nằm trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Ngày 03/11/2023 Cơ quan CSĐT Công an quận Hà Đông đã trả chiếc xe máy trên cho chị V.
Tại Cáo trạng số 367/CT-VKS-HĐ ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố NĐS về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm 0 khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo NĐS khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố đối với bị cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử:
-Áp dụng điểm 0 khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo NĐS từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam 11/9/2023;
-Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
-Về tang vật của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01phong bì niêm phong dán kín bên trong chứa ma túy đã qua giám định.
- Đối với 01 xe máy: Cơ quan điều tra đã trả lại chị V là phù hợp.
Phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận gì với phần luận tội và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người làm chứng, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 00 phút ngày 11/9/2023, tại phía trước số 3, đường Phùng Hưng, phường Phúc La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, NĐS đang có hành vi cất giấu trái phép 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Ketamine khối lượng 2,334gam để sử dụng thì bị Tổ công tác Y11-141 Công an thành phố Hà Nội phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Về tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm đối với bị cáo NĐS, Hội đồng xét xử thấy: Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2015/HSST ngày 02/2/2015 của TAND huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An và Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 27/2015/HSPT-QĐ ngày 19/3/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2017 chưa được xóa án. Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2019/HSST ngày 26/3/2019 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/7/2022 chưa được xóa án tích theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, việc truy tố và xét xử bị cáo theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất vụ án: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, xâm phạm tới độc quyền quản lý biệt dược của Nhà nước về ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn mà còn tiếp tay cho các đối tượng nghiện ma túy, góp phần làm gia tăng các loại tội phạm và tệ nạn trong xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy đối với đời sống xã hội và quy định của Nhà nước là nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ các chất ma túy, nhưng bị cáo coi thường pháp luật, cố ý phạm tội. Bị cáo có 02 tiền án đều về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, sau khi chấp hành xong hình phạt tù được ra trại, bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà lại tiếp tục phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
* Tình tiết tăng nặng: Không
* Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định, việc áp dụng hình phạt tiền không khả thi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
* Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín tại các mép dán ngoài có chữ ký của đối tượng NĐS, cán bộ Công an Nguyễn Văn Hào và Giám định viên Lê Khắc Nam bên trong chứa ma túy đã qua giám định.
Các vấn đề khác:
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha sơn màu đen, BKS 29E2-579.61, số máy JA39E-1111089, số khung RLHJA1919KY0369 thu giữ của NĐS là phương tiện Sự đã sử dụng để đi mua ma túy. Kết quả điều tra xác định chiếc xe máy là của chị ĐTTV. Ngày 11/9/2023 Sự mượn xe máy của chị V để đi có việc, chị V không biết Sự sử dụng xe vào việc đi mua ma túy, xe không nằm trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông đã trả chiếc xe máy trên cho chị V là phù hợp.
- Về nguồn gốc ma túy thu giữ của bị cáo: Bị cáo khai mua của người nam giới không quen biết tại khu vực ngã tư phố Đạm Phương, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của Sự không có tài liệu,chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 45; 46; 136; 260; 268; 269; 299; 326; 327; 329; 331; Điều 329; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án;
1- Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo NĐS phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2- Điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm 0 khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: NĐS 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam 11/9/2023.
3- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
-Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín, tại các mép dán có chữ ký của đối tượng NĐS cán bộ Công an Nguyễn Văn Hào và Giám định viên Lê Khắc Nam bên trong chứa ma túy đã qua giám định.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 11 năm 2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông với Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông
4- Về án phí: Bị cáo NĐS phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về nội dung có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản bản được niêm yết theo quy định của pháp luật. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - Công an quận Hà Đông; - VKSND quận Hà Đông; - Chi cục THADS quận Hà Đông; - Bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - UBND phường (xã)nơi bị cáo cư trú; - L u HS,VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tưởng Thị Huyền |