vanban.org

Bản án 29/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên Tuyên án 29/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn S - TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỦA CHÙA
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HS-ST
Ngày 29 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Lan Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sùng A Dinh, ông Giàng A Gông

- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST - HS ngày 11/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST - HS ngày 18/01/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Văn S - Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1978 tại huyện G, tỉnh Điện Biên; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Bản B, xã T, huyện G, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lường Văn Kh - Sinh năm 1955 và bà Lò Thị L (đã chết); Vợ là Lường Thị X - Sinh năm 1980 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án: Không, Tiền sự: Không; Chức vụ đảng, chính quyền: Không; Nhân thân: Bị cáo chưa bị cơ quan nào xử phạt hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử; Tạm giữ từ ngày 22/10/2023 đến ngày 25/10/2023, tạm giam từ ngày 25/10/2023 đến nay. Bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Lò Văn H – Sinh năm 2004. Nơi cư trú: Bản B, xã T, huyện G, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 22/10/2023 bị cáo Lường Văn S một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu trắng -xanh, biển kiểm soát 27Z1-282.05 của mình đi từ nhà bản Nậm Bay, xã Nà Tòng, huyện G lên tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện C để tìm mua ma tuý sử dụng. Khi đến tổ dân phố Q bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc Thái ngoài đường, bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ của người này và hỏi mua được 02 gói ma tuý với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được bị cáo cất giấu gói ma tuý trong túi quần bên trái đang mặc của mình rồi điều khiển xe đi về. Đến 10 giờ 00 phút cùng ngày khi bị cáo đến đoạn đường thuộc thôn P, xã M thì bị Công an huyện C bắt quả tang về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy đồng thời thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh bên trong có các cục chất bột màu trắng thể rắn.

- 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh bên trong có 01 cục chất bột màu hồng thể rắn.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu trắng - xanh, biển kiểm soát 27Z1-282.xx và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lò Văn H.

Ngày 22/10/2023, Cơ quan điều tra mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định vật chứng thu giữ của bị cáo: Các cục chất bột màu trắng thể rắn có khối lượng 0,8157gam, gửi toàn bộ để giám định ký hiệu H1; Cục chất bột màu hồng có khối lượng 0,0468 gam, gửi toàn bộ để giám định ký hiệu M1.

Kết luận giám định số 1535/KL - PC09 ngày 31/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lường Văn S gồm 0,8157 gam các cục chất bột màu trắng và 0,0468 gam cục chất bột màu hồng.

- Mẫu các cục chất bột màu trắng ký hiệu H1 thu giữ của Lường Văn S gửi giám định là chất ma tuý: Loại Heroine. Hoàn mẫu vật còn lại sau giám định 0,67 gam.

- Mẫu cục chất bột màu hồng ký hiệu M1 thu giữ của Lường Văn S gửi giám định là chất ma tuý: Loại Methamphetamine. Hoàn mẫu vật còn lại sau giám định 0,02 gam.

Tại cơ quan điều tra người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lò Văn H có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo về việc Lò Văn H bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu trắng - xanh, biển kiểm soát 27Z1-282.xx cho Lường Văn S vào tháng 8/2023 với giá 12.000.000 đồng.

Cáo trạng số 03/CT - VKSHTC ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa truy tố bị cáo Lường Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội ''Tàng trữ trái phép chất ma túy''; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định loại Heroine, Methamphetamine; tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô kèm giấy chứng nhận đăng ký xe và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy người vắng mặt đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và sự vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự. [2] Xét về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và Bản kết luận giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.

Có đủ cơ sở kết luận ngày 22/10/2023 bị cáo đã mua được 02 chất ma túy của một người đàn ông dân tộc Thái, bị cáo không biết họ tên, địa chỉ với giá 500.000 đồng tại tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện C, mục đích bị cáo mua ma túy để sử dụng. Sau đó bị cáo cất giấu trong người và trên đường về đã bị Công an huyện C bắt quả tang và thu giữ toàn bộ các chất ma túy bị cáo cất giấu.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã cố ý mua 0,8157 gam Heroine và 0,0468 gam Methamphetamine, tổng khối lượng hai chất ma túy là 0,8625 gam. Hành vi cất giấu hai chất ma túy của bị cáo với mục đích sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội ''Tàng trữ trái phép chất ma túy'' theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo là người nghiện chất ma túy, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo. Do đó đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận. [4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của Cơ quan điều tra và tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có tài sản gì giá trị; bị cáo không có việc làm và thu nhập thường xuyên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận. [5] Về vấn đề khác có liên quan: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, địa chỉ nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, xử lý. [6] Về vật chứng vụ án:

Đối với 0,67 gam Heroine và 0,02 gam Methamphetamine còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với chiếc xe mô tô thu giữ của bị cáo (đăng ký xe mang tên Lò Văn H) tại cơ quan điều tra và tại phiên toà đã làm rõ bị cáo dùng tiền cá nhân do đi làm thuê tích góp được để mua xe của Lò Văn H vào tháng 8/2023 với giá 12.000.000đồng, bị cáo chưa làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận xe mô tô, xe máy. Hội đồng xét xử thấy bị cáo đã cố ý sử dụng xe làm phương tiện đi mua trái phép ma tuý nên cần tịch thu xe sung vào ngân sách nhà nước. [7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nên cần miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ. [8] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. 1. Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn S phạm tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy " 2. Hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lường Văn S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 22/10/2023. 3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bì thư màu trắng do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên phát hành mẫu vật hoàn theo kết luận giám định số 1535/KL – KTHS ngày 31/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.

- Tịch thu Sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu trắng - xanh, biển kiểm soát 27Z1-282.xx (kèm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lò Văn H).

Số vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện C. 4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. 5. Kháng cáo: Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/01/2024); Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết.

Cỡ chữ