vanban.org

Bản án 29/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An Tuyên án 19/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Võ Lâm H, Nguyễn Thị Bích L, Nguyễn Văn N, Hồ Minh T, Hồ Minh S, Phạm Quốc X và Nguyễn Thanh H phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Võ Lâm H 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 23-01-2024. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích L 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 23-01-2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Lâm Hà +ĐP "Đánh bạc". - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Võ Lâm H, Nguyễn Thị Bích L, Nguyễn Văn N, Hồ Minh T, Hồ Minh S, Phạm Quốc X và Nguyễn Thanh H phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 17 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 321 Bộ luật hình sự Xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦ THỪA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HS-ST
Ngày 19-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Võ Đức Huy.

2- Ông Nguyễn Văn Đồ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định bổ sung quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31a/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Võ Lâm H, sinh năm 1977, tại Thành phố H. Giới tính: Nam. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số 28/27/34B P, Phường X, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 03/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Võ Văn N (đã chết) và bà Võ Thị C (đã chết); có vợ tên Phan Thị N, sinh năm 1977; con có 01 người, sinh năm 1997. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: chưa bị xử phạt hành chính, chưa có án tích. Bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 23-01-2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1980, tại S. Giới tính: Nữ. Nơi đăng ký thường trú: Ấp An Thành, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: Ấp 1, xã Mỹ Phú, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 01/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1945 và bà Lê Thị N (đã chết); có chồng tên Nguyễn Thanh H, sinh năm 1972 (đã ly hôn); con có 01 người, sinh năm 2005. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa có án tích. Bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 23-01-2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn Nh, tên gọi khác S, sinh năm 1970, tại Long An. Giới tính: Nam. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp 1, xã M, huyện T, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; Trình độ học vấn: 09/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn V (đã chết) và bà Đoàn Thị T (đã chết); có vợ tên Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1968; con có 02 người, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1992. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa có án tích. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Hồ Minh T, tên gọi khác L, sinh năm 1977, tại Long An. Giới tính: Nam. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số 3/103 ấp N, xã L, thành phố T, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 08/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Hồ Tấn B (đã chết) và bà Trần Minh Nt, sinh năm 1938; có vợ tên Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1982; con có 01 người, sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa có án tích. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Hồ Minh S, tên gọi khác Út N, sinh năm 1978, tại Long An. Giới tính: Nam. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp 1, xã M, huyện T, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 05/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Hồ Văn Q, sinh năm 1934 và bà Đỗ Thị N, sinh năm 1936; có vợ tên Trần Thị L, sinh năm 1986; con có 02 người, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa có án tích. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

6. Họ và tên: Phạm Quốc X, sinh năm 1976, tại Long An. Giới tính: Nam. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã L, thành phố T, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 03/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Phạm Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị B, 81 tuổi; có vợ tên Đỗ Thị M, sinh năm 1985; con có 03 người, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa có án tích. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

7. Họ và tên: Nguyễn Thanh H, tên gọi khác T, sinh năm 1978, tại Tiền Giang. Giới tính: nam. Nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Chỗ ở hiện nay: Ấp 1, xã M, huyện T, tỉnh Long An (không có đăng ký). Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 05/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1949 và bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1956; có vợ tên Nguyễn Thị Thanh Ph, sinh năm 1980; con có 02 người, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa có án tích. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1- Anh Phạm Tuấn K, sinh năm 1987. Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã L, thành phố T, tỉnh Long An. (vắng mặt)

2. Ông Trương Văn Kh, sinh năm 1972. Địa chỉ cư trú: Ấp 4, xã M, huyện Ttỉnh Long An. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Lâm Hà và Nguyễn Thị Bích L thuê nhà của ông Trần Thanh B, bà Trần Thị Khánh L ở ấp 1, xã M, huyện T sống chung như vợ chồng và buôn bán nước giải khát. H và L thống nhất sẽ cho những người khách đến quán uống nước chơi đánh bạc ăn thua bằng tiền tại quán để thu lợi từ việc bán nước giải khát, thuốc hút và bán bài tây cho khách chơi.

Khoảng 10 giờ ngày 23-01-2024, có Hồ Minh S, Phạm Quốc X, Hồ Minh T, Nguyễn Thanh H đến quán của H và L để uống nước. Tại đây, S, X, T, Thanh H rủ nhau chơi đánh bài ăn thua bằng tiền và Lâm H, L đồng ý cho những người này chơi đánh bài tại quán. Lâm H lấy 01 bộ bài tây loại 52 lá bán cho những người này với giá là 20.000 đồng. S, X, T và Thanh H thống nhất chơi bài tiến liên 13 lá, tiền cược mỗi ván là người thua nhất sẽ chung cho người thắng nhất 40.000 đồng, người thua nhì sẽ chung cho người thắng nhì 20.000 đồng. S sử dụng 7.800.000 đồng, X sử dụng 600.000 đồng, T sử dụng 3.000.000 đồng, Thanh H sử dụng 220.000 đồng để làm vốn đánh bạc. S, X, T và Thanh H chơi liên lục nhiều ván thắng thua qua lại. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày thì Nguyễn Thanh H huề vốn, nghỉ và ra về thì có có Nguyễn Văn N vào chơi thế chỗ của Thanh H. Nhan đem theo số tiền 5.000.000 đồng, mua vé số hết 100.000 đồng còn lại 4.900.000 đồng làm vốn đánh bạc. S, X, T và N thống nhất chơi bài binh xập xám 13 lá, tiền cược mỗi ván là người thua nhất sẽ chung cho người thắng nhất 100.000 đồng, người thua nhì sẽ chung cho người thắng nhì 50.000 đồng. S, X, T và N chơi liên tục nhiều ván, thắng thua qua lại. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an huyện T phối hợp Công an xã M phát hiện bắt quả tang, tạm giữ tang vật có liên quan. Kết quả lúc này S thua 350.000 đồng còn lại 7.450.000 đồng (để trên chiếu bạc 150.000 đồng, để trong người 7.300.000 đồng), X thắng 500.000 đồng (để trên chiếu bạc 1.100.000 đồng), T thua 150.000 đồng còn lại 2.850.000 đồng (để trong người), N huề vốn.

Trong lúc S, X, T và N chơi đánh bài thì Trương Văn Kh, Phạm Tuấn K ngồi bên ngoài xem và cá cược riêng với nhau, mỗi người sử dụng số tiền 300.000 đồng để làm vốn đánh bạc. Kh bắt tụ bài của S, Kh bắt tụ bài của X, tiền cược mồi ván là 100.000 đồng.

Cơ quan điều tra Công an huyện T đã thu giữ tang vật liên quan gồm: 01 (một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 (một) bàn nhựa màu xanh; 06 (sáu) ghế nhựa màu xanh, số tang vật này Chi cục Thi hành án huyện T đang quản lý chờ xét xử.

Tiền Việt Nam: 17.120.000 đồng gồm: Thu trên chiếu bạc 1.250.000 đồng (X 1.100.000 đồng và S 150.000 đồng), Hồ Minh S 7.300.000 đồng, Hồ Minh T 2.850.000 đồng, Nguyễn Văn N 4.900.000 đồng, Nguyễn Thanh H 220.000 đồng, Trương Văn Kh 300.000 đồng, Phạm Tuấn K 300.00 đồng. Cơ quan điều tra đã tạm gửi vào tài khoản Công an huyện Thủ Thừa mở tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh huyện T Đông Long An.

Bản Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 17-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An truy tố Võ Lâm H, Nguyễn Thị Bích L, Nguyễn Văn N, Hồ Minh T, Hồ Minh S, Phạm Quốc X và Nguyễn Thanh H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi tham gia đánh bạc như nội dung đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân vẫn giữ nguyên nội dung truy tố, sau khi đánh giá tính chất và mức độ phạm tội của từng bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Võ Lâm H, Nguyễn Thị Bích L, Nguyễn Văn N, Hồ Minh T, Hồ Minh S, Phạm Quốc X, Nguyễn Thanh H phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng Điều 17, Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, xử phạt Võ Lâm H, Nguyễn Thị Bích L từ 09 tháng đến 01 năm tù; xử phạt Nguyễn Văn N, Hồ Minh S từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Áp dụng Điều 17, Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54, Điều 58; khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, xử phạt Hồ Minh T, Phạm Quốc X, Nguyễn Thanh H từ 03 tháng đến 06 tháng tù. Xử phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Vật chứng, căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền dùng đánh bạc là 17.120.000 đồng mà Cơ quan điều tra đã tạm gửi vào tài khoản mở tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh huyện T Đông Long An. Trong đó tiền thu của X 1.100.000 đồng, thu của Hồ Minh S 7.450.000 đồng, Hồ Minh T2.850.000 đồng, Nguyễn Văn N 4.900.000 đồng, Nguyễn Thanh H 220.000 đồng, Trương Văn Kh 300.000 đồng và Phạm Tuấn K 300.000 đồng; tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 (một) bàn nhựa màu xanh; 06 (sáu) ghế nhựa màu xanh.

Các bị cáo không tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủ Thừa và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủ Thừa và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản vụ việc do Công an xã M lập hồi 12 giờ 30 phút ngày 23-01-2024. Từ đó có đủ căn cứ xác định: Khoảng 10 giờ ngày 23-01-2024, tại quán nước giải khát của Võ Lâm H và Nguyễn Thị Bích L ở ấp 1, xã M, huyện Thủ Thừa có Hồ Minh S, Phạm Quốc X, Hồ Minh T, Nguyễn Thanh H tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền, tổng số tiền những người chơi dùng đánh bạc là 11.629.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Nguyễn Thanh H huề vốn nghỉ ra về thì có Nguyễn Văn N vào thế chỗ của Thanh H để tiếp tục chơi đánh bài, N sử dụng số tiền 4.900.000đ để làm vốn đánh bạc. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Như vậy hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn N, Hồ Minh T, Hồ Minh Sơn, Phạm Quốc X và Nguyễn Thanh H đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Đối với Võ Lâm H và Nguyễn Thị Bích L tuy không tham gia đánh bạc nhưng là người cho mượn địa điểm và cung cấp bài, bàn ghế cho người khác chơi đánh bạc. Theo tinh thần Nghị quyết số 01/2010 ngày 22-10-2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về tội đánh bạc thì hành vi của Võ Lâm H và Nguyễn Thị Bích L đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng gây mất trật tự, an toàn xã hội, là mầm móng phát sinh các tội phạm khác. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm về hành vi mà mình đã thực hiện. Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 17-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Võ Lâm H, Nguyễn Thị Bích L, Nguyễn Văn N, Hồ Minh T, Hồ Minh S, Phạm Quốc X và Nguyễn Thanh H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về hình phạt: Động cơ và mục đích phạm tội của các bị cáo là vì vụ lợi, mặc dù biết pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Vụ án có tính đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo thấy cần phải áp dụng hình phạt tù để cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Đối với Võ Lâm H, Nguyễn Thị Bích L là người tạo điều kiện để cho các bị cáo còn lại thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn. Bị cáo Hồ Minh S và Nguyễn Văn Nh bỏ ra số tiền đánh bạc nhiều hơn bị cáo Hồ Minh T, do đó áp dụng hình phạt cao hơn hình phạt đối với Trung. Bị cáo Phạm Quốc X và Nguyễn Thanh H dùng số tiền đánh bạc ít hơn nhiều so với bị cáo T do đó áp dụng hình phạt thấp hơn hình phạt đối với Trung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiện hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo Hồ Minh T, Phạm Quốc X và Nguyễn Thanh H có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51, số tiền bỏ ra đánh bạc nhỏ hơn so với các bị cáo khác, do đó áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Xét thấy Nguyễn Văn N, Hồ Minh T, Hồ Minh S, Phạm Quốc X và Nguyễn Thanh H có nơi cư trú rõ ràng, số tiền mỗi bị cáo sử dụng để tham gia đánh bạc không lớn, mỗi bị cáo đều có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự và được hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, các bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo. Việc cho các bị cáo được hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó cho các bị cáo Nguyễn Văn N, Hồ Minh T, Hồ Minh S, Phạm Quốc X và Nguyễn Thanh H được hưởng án treo và giao cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy động cơ phạm tội của các bị cáo là vụ lợi nhưng mức độ không lớn, bị cáo Võ Lâm H và bị cáo L cho người khác chơi đánh bài tại quán mục đích để bán nước giải khát chứ không phải để lấy tiền xâu. Các bị cáo có nghề nghiệp nhưng thu nhập trung bình không cao và không ổn định, việc áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo cũng đủ sức giáo dục, răn đe do đó thấy không cần phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Đối với Trương Văn Kh và Phạm Tuấn K có hành vi đánh bạc. Tuy nhiên, số tiền đánh bạc của Khen và Kha dưới 5.000.000 đồng, cả hai chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc. Do đó Cơ quan điều tra Công an huyện T chuyển xử lý hành chính là đúng quy định.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của Phạm Quốc X là 1.100.000 đồng; thu của Hồ Minh S là 7.450.000 đồng; Hồ Minh T 2.850.000 đồng; Nguyễn Văn N là 4.900.000 đồng; Nguyễn Thanh H 220.000 đồng; Trương Văn Khen 300.000 đồng; Phạm Tuấn K 300.000 đồng, tổng cộng là 17.120.000 đồng tạm gửi vào tài khoản mở tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh huyện T Đông Long An. Thu giữ của Võ Lâm H và Nguyễn Thị Bích L 01 (một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 (một) bàn nhựa màu xanh; 06 (sáu) ghế nhựa màu xanh. Tiền và vật đã thu giữ là tài sản của các bị cáo và người liên quan sử dụng vào việc đánh bạc, do đó căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung quỹ nhà nước toàn bộ số tiền đã tạm gửi và tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây 52 lá, 01 (một) bàn nhựa màu xanh và 06 (sáu) ghế nhựa màu xanh.

Về án phí sơ thẩm: Theo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án thì các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Võ Lâm H, Nguyễn Thị Bích L, Nguyễn Văn N, Hồ Minh T, Hồ Minh S, Phạm Quốc X và Nguyễn Thanh H phạm tội “Đánh bạc”.

1. Áp dụng Điều 17, Điều 38; Điều 50; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự đối với Võ Lâm H, Nguyễn Thị Bích L;

Xử phạt bị cáo Võ Lâm H 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 23-01-2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích L 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 23-01-2024.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Võ Lâm H và Nguyễn Thị Bích L 45 ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

2. Áp dụng Điều 17, Điều 38; Điều 50; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 58; khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn N, Hồ Minh S;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 19-6-2024).

Xử phạt bị cáo Hồ Minh S 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 19-6-2024).

Giao các bị cáo Nguyễn Văn N, Hồ Minh S cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Long An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Áp dụng Điều 17, Điều 38; Điều 50; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54, Điều 58; Điều 65; khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Hồ Minh T 05 (năm) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 19-6-2024).

Xử phạt bị cáo Phạm Quốc X 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 19-6-2024).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 19-6-2024).

Giao các bị cáo Hồ Minh T, Phạm Quốc X cho Ủy ban nhân dân xã L, thành phố T, tỉnh Long An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền thu giữ của Phạm Quốc X là 1.100.000 đồng; thu của Hồ Minh S là 7.450.000 đồng; Hồ Minh T 2.850.000 đồng; Nguyễn Văn N 4.900.000 đồng; Nguyễn Thanh H 220.000 đồng; Trương Văn Kh 300.000 đồng; Phạm Tuấn K 300.000 đồng, tổng cộng là 17.120.000 đồng. Cơ quan điều tra đã nộp vào tài khoản tạm gửi của Công an huyện Thủ Thừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện T Đông Long An.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 (một) bàn nhựa màu xanh và 06 (sáu) ghế nhựa màu xanh của Võ Lâm H và Nguyễn Thị Bích L (theo Quyết định chuyển vật chứng số 19/QĐ-VKS ngày 17-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Võ Lâm H, Nguyễn Thị Bích L, Nguyễn Văn N, Hồ Minh T, Hồ Minh S, Phạm Quốc X, Nguyễn Thanh H mỗi người phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

6. Án xử sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 19-6-2024. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ