- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày: 11 – 4 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trác
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thực
2. Ông Nguyễn Ngọc Hoàng
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên toà: Bà Lâm Thị Tâm- Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 4 năm 2024; Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 19/3/2024; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 28/3/2024 đối với bị cáo:
Phan Văn L, sinh ngày 20/6/1986 tại huyện H, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn Tr, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Phan Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1957; Vợ: Lưu Thị H, sinh năm 1995, có 01 con sinh năm 2015. Nhân thân: Bản án số 190/2016/HSST ngày 20/10/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 31/7/2017, chấp hành xong hình phạt tù và ngày 10/01/2017 chấp hành xong phần thi hành án dân sự. Tiền án: Bản án số 92/2020/HSST, ngày 25/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 31/01/2022, chấp hành xong hình phạt tù và ngày 07/12/2020 chấp hành xong phần thi hành án dân sự. Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/12/2023, đến ngày 30/12/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình, trích xuất có mặt.
* Những người làm chứng:
- Anh Đào Quang X, sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn N, xã Th, huyện H, tỉnh Thái Bình
- Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1964
Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình
- Anh Lại Đức M, sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn Ngoại Trang, xã Thống Nhất, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
(Anh X, ông Y, anh M đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 45 phút ngày 24/12/2023, tại đoạn đường ĐT 452 thuộc địa phận thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình; Công an huyện Hưng Hà bắt quả tang Phan Văn L có hành vi cất giấu tại lòng bàn tay phải 01 gói giấy tráng kim màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1210 gam. L khai gói ma túy trên là của một người đàn ông tên là C (không biết họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cụ thể) đưa cho L để sử dụng. Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã thu giữ và niêm phong gói ma tuý trên trước sự chứng kiến của anh Lã Đức M, anh Đào Quang X và ông Nguyễn Văn Y.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phan Văn L, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình không thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 1878/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Hêrôin (Heroine), có khối lượng 0,1210 gam.”
Bản Cáo trạng số 34/CT-VKSHH, ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà đã truy tố Phan Văn L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Liệu khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như tại bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Phan Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù đến 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, quyết định án phí hình sự theo luật định
Bị cáo Liệu không có tranh luận
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 24/12/2023, bị cáo tàng trữ 01 gói ma túy, loại Hêrôin tại địa phận thôn T, xã M, mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng. Ngoài ra còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản quản lý và niêm phong đồ vật, tài liệu; bản kết luận giám định số 1878/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Như vậy có đầy đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 BLHS: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
……………
c) Heroine, Cocain, Methamphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
……………….
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”
Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả vụ án cùng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma túy là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm nguy hiểm, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo đã tàng trữ trái phép 0,1210 gam Hêrôin nên đã phạm vào tình tiết quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; mặt khác bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và có 01 tiền án cũng về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; bị cáo không lấy đó là bài học để cải tạo, tu dưỡng bản thân mà vẫn cố tình phạm tội. Do vậy cần phải có hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo bị cáo nói riêng cũng như phòng chống tội phạm nói chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng xét bị cáo thành khẩn khai báo; do đó cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp pháp luật.
Mục đích tàng trữ trái phép ma túy của bị cáo là để sử dụng cho bản thân, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
Về nguồn gốc số ma túy: Khoảng 15 giờ ngày 24/12/2023, bị cáo được một người đàn ông tên là C là bạn cùng nghiện ma túy (bị cáo không biết rõ đầy đủ họ tên, tuổi, địa chỉ của người này) rủ đi mua ma túy để cùng sử dụng. C lấy xe máy của C (bị cáo không nhớ biển kiểm soát xe) chở bị cáo đi đến Bệnh viện Đa khoa huyện Hưng Hà, sau đó C gửi xe và 1 mình đi vào trong bệnh viện; bị cáo đứng ngoài cổng đợi. Khoảng 05 phút sau C đi ra đưa cho bị cáo 01 gói giấy tráng kim màu trắng, biết bên trong gói trên là ma túy Hêrôin nên bị cáo cầm trong lòng bàn tay phải và đi ra đường đứng đợi C thì bị Công an huyện Hưng Hà phát hiện, bắt quả tang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã tiến hành điều tra, xác minh, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu nào khác, không xác định được con người cụ thể đưa ma túy cho bị cáo nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu toàn bộ số ma túy đựng trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số: 1878/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình để tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố bị cáo Phan Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phan Văn L: 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/12/2023.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu toàn bộ số ma túy đựng trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1878/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình để tiêu hủy.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Phan Văn L phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - VKSND huyện Hưng Hà; - Công an huyện Hưng Hà; - THADS huyện Hưng Hà; - Bị cáo – Trại tạm giam; - Sở Tư pháp; - Lưu hồ sơ; VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Quang Trác |