- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trứ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày 21/3/2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hƣơng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kiện
Ông Huỳnh Quốc Diện
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nhƣ Ngọc- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Hoa- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Hồ Hữu N, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1999 tại Kiên Giang; Nơi cư trú: Khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh A; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Hữu K, sinh năm 1975 và bà Hồ Mai L, sinh năm 1975; Có 01 người chị ruột tên Hồ Thị Kim N, sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/11/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
+ Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1975
Nơi cư trú: Tổ 6, ấp P, xã M, huyện C, tỉnh K.
+ Từ Ngọc N, sinh năm 1953
Nơi cư trú: Ấp ấp P, xã M, huyện C, tỉnh K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 11/11/2023, Hồ Hữu N đi đến nhà người bạn tên Oai (là bạn quen ngoài xã hội, không rõ nhân thân) để chơi. Đến khoảng 01 giờ ngày 12/11/2023, N đưa cho Oai 1.000.000 đồng nhờ Oai đi mua ma túy về sử dụng, Oai nhận tiền đi đâu không rõ, khoảng 30 phút sau, Oai về đưa cho Nghĩa 01 bịch ma túy. Sau đó, Oai và N cùng sử dụng ma túy tại căn nhà hoang gần khu vực nhà máy nước thuộc ấp P, xã M, huyện C, tỉnh K. Đến khoảng 04 giờ ngày 12/11/2023, N đến thuê phòng số 4 tại nhà nghỉ K để tiếp tục sử dụng ma túy. N sử dụng xong thì nằm ngủ. Đến khoảng 09 giờ 40 phút, lực lượng Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đến khám xét, bắt quả tang, thu giữ trong túi áo bên trái N đang mặc trên người 01 bịch nylon trong suốt, kích thước 1,2 cm x 2,3 cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất. N thừa nhận bịch nylon chứa chất ma túy, N mua về để sử dụng.
* Tại Kết luận giám định số 1163/KL-KTHS ngày 16/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Kiên Giang kết luận như sau:
“Các hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất chứa bên trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,6095 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
* Về tình tiết tăng nặng: Hồ Hữu N không có tình tiết tăng nặng.
* Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố Hồ Hữu N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
* Về vật chứng:
- 01 (một) chai nhựa nhãn hiệu Number 1, nắp màu vàng, trên nắp có gắn 01 (một) ống thủy tinh màu trắng cao 4,5 cm, không rõ hình dạng và 01 (một) ống hút nhựa màu đỏ dài 12 cm, 01 (một) hộp quẹt gas bằng kim loại, màu vàng, kích thước 08 cm x 2,4 cm. Tất cả được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS1, mã số 2112244, có dòng chữ “Tên vụ: Tàng trữ trái phép chất ma túy, địa điểm thu mẫu: P4 nhà nghỉ Khánh Linh, ấp Phước Ninh, xã Mong Thọ B; Ngày thu mẫu: 12/11/2023; Tên mẫu vật: 01 bật lửa màu vàng, 01 chai nhựa có chất lỏng, phía trên có ống hút thủy tinh”, có chữ ký của Trần Minh Hải, Hồ Hữu Nghĩa, Từ Ngọc Nhị, Nguyễn Thị Tuyết Linh.
- 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín một đầu, một đầu dán keo, kích thước là 5,5 cm x 3,3 cm x 4,2 cm x 2,5 cm, trên bề mặt bịch nylon có dòng chữ màu đỏ “Tăm trúc cao cấp”, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất. Khối lượng chất ma túy gửi đi giám định là 0,6095 gam. Sau khi được niêm phong gửi đi giám định, đã được niêm phong trong phong bì có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, niêm phong mẫu vật vụ số 1163/2023, ngày 16 tháng 11 năm 2023” có chữ ký của người chứng kiến Trần Minh Hải, giám định viên Thái Thị Thanh Thủy và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Kiên Giang. Khối lượng chất ma túy còn lại sau khi giám định là 0,5470 gam.
Tại bản cáo trạng số: 30/CT-VKS-CT ngày 19/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Hồ Hữu N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với người tên Oai theo lời khai của Hồ Hữu N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã tiến hành xác minh có 01 người tên Lưu Văn Oai, sinh năm 1998, trú tại ấp Phước Ninh, xã Mong Thọ B, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Tuy nhiên, Lưu Văn Oai đã bỏ địa phương đi, nên chưa triệu tập làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tranh luận và luận tội: Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Hồ Hữu N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hồ Hữu N từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:
- Tịch thu tiêu hủy 0,5470 gam là chất ma túy còn lại sau khi giám định, loại Methamphetamine, đã được niêm phong trong 01 (một) phong bì có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, niêm phong mẫu vật vụ số 1163/2023, ngày 16 tháng 11 năm 2023” có chữ ký của người chứng kiến Trần Minh Hải, giám định viên Thái Thị Thanh Thủy và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Kiên Giang.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chai nhựa nhãn hiệu Number 1, nắp màu vàng, trên nắp có gắn 01 (một) ống thủy tinh màu trắng cao 4,5 cm, không rõ hình dạng và 01 (một) ống hút nhựa màu đỏ dài 12 cm, 01 (một) hộp quẹt gas bằng kim loại, màu vàng, kích thước 08 cm x 2,4 cm. Tất cả được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS1, mã số 2112244, có dòng chữ “Tên vụ: Tàng trữ trái phép chất ma túy, địa điểm thu mẫu: P4 nhà nghỉ Khánh Linh, ấp Phước Ninh, xã Mong Thọ B; Ngày thu mẫu: 12/11/2023; Tên mẫu vật: 01 bật lửa màu vàng, 01 chai nhựa có chất lỏng, phía trên có ống hút thủy tinh”, có chữ ký của Trần Minh Hải, Hồ Hữu Nghĩa, Từ Ngọc Nhị, Nguyễn Thị Tuyết Linh.
Bị cáo thống nhất quan điểm quan điểm tranh luận và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được về sớm lo cho cha mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Người làm chứng Nguyễn Thị Tuyết L, Từ Ngọc N vắng mặt tại phiên tòa nhưng trước đó đã có lời khai ở Cơ quan điều tra, đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; việc vắng mặt của Nguyễn Thị Tuyết L, Từ Ngọc N không gây trở ngại cho việc xét xử, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo; được sự đồng ý của đại diện Viện kiểm sát và bị cáo, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt Nguyễn Thị Tuyết L, Từ Ngọc N theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Hữu N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu cũng như kết quả điều tra của Cơ quan điều tra và bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Từ đó, có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 09 giờ 40 phút ngày 12/11/2023, lực lượng Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang bắt quả tang Hồ Hữu N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại phòng trọ số 4, nhà nghỉ K thuộc ấp P, xã M, huyện C, tỉnh K. Hồ Hữu N tàng trữ ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,6095 gam. Hồ Hữu N thừa nhận tàng trữ chất ma túy để sử dụng.
Căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) …;
b) …;
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”
Đối chiếu với quy định nêu trên thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như đã viện dẫn. Do đó, cáo trạng đã truy tố bị cáo Hồ Hữu N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại nguy hiểm cho sức kho của con người và cũng là nguyên nhân phát sinh ra các tệ nạn trong xã hội, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo đã trưởng thành và nhận thức được việc sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật thế nhưng chỉ vì nghiện ma túy, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật, dấn thân vào con đường phạm tội, hành vi này đang gây nên một hệ lụy xấu về tương lai trong giới thanh thiếu niên tr ngày nay. Trong tình hình tội phạm về tàng trữ trái phép chất ma túy ngày càng gia tăng và phức tạp như hiện nay, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt và trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Từ những phân tích nêu trên, trong nghị án, HĐXX xem xét hình phạt khi lượng hình đối với bị cáo để có mức án phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội; đồng thời, thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.
[6] Về quan điểm của Viện kiểm sát: Quan điểm về tội danh, khung hình phạt, hình phạt, Điều luật áp dụng của Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.
[7] Về đánh giá và xử lý vật chứng:
- 0,5470 gam là chất ma túy còn lại sau khi giám định, loại Methamphetamine, đã được niêm phong trong 01 (một) phong bì có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, niêm phong mẫu vật vụ số 1163/2023, ngày 16 tháng 11 năm 2023” có chữ ký của người chứng kiến Trần Minh Hải, giám định viên Thái Thị Thanh Thủy và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Kiên Giang.
- 01 (một) chai nhựa nhãn hiệu Number 1, nắp màu vàng, trên nắp có gắn 01 (một) ống thủy tinh màu trắng cao 4,5 cm, không rõ hình dạng và 01 (một) ống hút nhựa màu đỏ dài 12 cm, 01 (một) hộp quẹt gas bằng kim loại, màu vàng, kích thước 08 cm x 2,4 cm. Tất cả được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS1, mã số 2112244, có dòng chữ “Tên vụ: Tàng trữ trái phép chất ma túy, địa điểm thu mẫu: P4 nhà nghỉ Khánh Linh, ấp Phước Ninh, xã Mong Thọ B; Ngày thu mẫu: 12/11/2023; Tên mẫu vật: 01 bật lửa màu vàng, 01 chai nhựa có chất lỏng, phía trên có ống hút thủy tinh”, có chữ ký của Trần Minh Hải, Hồ Hữu Nghĩa, Từ Ngọc Nhị, Nguyễn Thị Tuyết Linh.
Các vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[8] Đối với người tên Oai theo lời khai của Hồ Hữu N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã tiến hành xác minh có 01 người tên Lưu Văn Oai, sinh năm 1998, trú tại ấp Phước Ninh, xã Mong Thọ B, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Tuy nhiên, Lưu Văn Oai đã bỏ địa phương đi, nên chưa triệu tập làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang nên tiếp tục làm rõ, khi có kết quả sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Hữu N phải nộp số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh:
1.1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
1.2. Tuyên bố bị cáo Hồ Hữu N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồ Hữu N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 12/11/2023).
3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:
- Tịch thu tiêu hủy 0,5470 gam là chất ma túy còn lại sau khi giám định, loại Methamphetamine, đã được niêm phong trong 01 (một) phong bì có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, niêm phong mẫu vật vụ số 1163/2023, ngày 16 tháng 11 năm 2023” có chữ ký của người chứng kiến Trần Minh Hải, giám định viên Thái Thị Thanh Thủy và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Kiên Giang.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chai nhựa nhãn hiệu Number 1, nắp màu vàng, trên nắp có gắn 01 (một) ống thủy tinh màu trắng cao 4,5 cm, không rõ hình dạng và 01 (một) ống hút nhựa màu đỏ dài 12 cm, 01 (một) hộp quẹt gas bằng kim loại, màu vàng, kích thước 08 cm x 2,4 cm. Tất cả được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS1, mã số 2112244, có dòng chữ “Tên vụ: Tàng trữ trái phép chất ma túy, địa điểm thu mẫu: P4 nhà nghỉ Khánh Linh, ấp Phước Ninh, xã Mong Thọ B; Ngày thu mẫu: 12/11/2023; Tên mẫu vật: 01 bật lửa màu vàng, 01 chai nhựa có chất lỏng, phía trên có ống hút thủy tinh”, có chữ ký của Trần Minh Hải, Hồ Hữu Nghĩa, Từ Ngọc Nhị, Nguyễn Thị Tuyết Linh.
Vật chứng nêu trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số: 24/QĐ-VKS-CT ngày 19/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Mục 1, Phần I của Danh mục án phí thuộc Danh mục án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
Xử: Buộc bị cáo Hồ Hữu N phải nộp số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/3/2024).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Châu Thành, KG; - Công an huyện Châu Thành, KG; - Chi cục THADS huyện Châu Thành, KG; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Thu Hƣơng |