vanban.org

Bản án 29/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Ph.

Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Ph được ly hôn với anh Hoàng Văn Ngh. Về nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRẦN THỊ PH - HOÀNG VĂN NGH"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 18-6-2024.
V/v: “Kiện ly hôn và tranh
chấp nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Vũ.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Y Dhiễu Hmok.

2. Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải.

-Thư ký phiên Tòa: Ông Thiều Sỹ Vững - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thu Nguyên – Kiểm sát viên.

Ngày 18/6/2024 tại phòng xử án, Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ mở phiên toà xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 56/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/3/2024 về việc “Kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10/5/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30/5/2024, giữa:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ph, sinh năm: 1992. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Số 04 Đặng Nguyên C, TDP Tân H, phường Thống Nh, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk.

Chỗ ở hiện nay: Đội 1, xóm Lâm Th, xã Nam Th, huyện Yên Th, tỉnh Nghệ An.

Bị đơn: Anh Hoàng Văn Ngh, sinh năm 1988. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Địa chỉ: Số 04 Đặng Nguyên C, TDP Tân H, phường Thống Nh, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk.

Hiện đang chấp hành án tại trại giam Đắc T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị Ph và anh Ngh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ph và anh Ngh về sống chung với nhau từ năm 2014, đăng ký kết hôn tại UBND phường Thống Nh, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk, kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, sau khi về sống chung hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng nhiều quan điểm nên xảy ra nhiều cuộc cãi vã và anh Ngh không lo làm ăn, không có trách nhiệm với vợ con, hiện chị Ph không còn tình cảm gì với anh Ngh, cuộc sống chung không thể kéo dài được nữa, nay chị Ph yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngh.

Ngược lại, anh Ngh cho rằng lý do chị Ph yêu cầu ly hôn không đúng sự thật, nên anh Ngh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị Ph và anh Ngh có 01 con chung là Hoàng Minh Th, sinh ngày 15/11/2014, hiện con chung do chị Ph nuôi dưỡng, nên chị Ph yêu cầu tiếp tục được nuôi con chung, nhưng anh Ngh không đồng ý mà nhận nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hiện tại chị Ph và anh Ngh không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị Ph và anh Ngh không ai yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa khẳng định:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ, Tòa án thực hiện đầy đủ và đúng trình tự theo quy định của pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của đương sự có trong hồ sơ vụ án do chủ tọa phiên tòa đã công bố tại phiên tòa thể hiện việc chị Ph khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Ngh là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Cho chị Ph ly hôn với anh Ngh, tiếp tục giao con chung cho chị Ph nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Pháp luật về tố tụng: Việc chị Trần Thị Ph khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Hoàng Văn Ngh, Toà án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Do anh Ngh hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đắc Tân, Tòa án đã tiến hành làm việc và tống đạt các văn bản thông qua Ban giám thị trại giam, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

. Pháp luật về nội dung:

2.1, Về quan hệ hôn nhân: Chị Ph và anh Ngh về sống chung với nhau từ năm 2014, đăng ký kết hôn tại UBND phường Thống Nh, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk theo giấy chứng nhận kết hôn số 74/2015/KH ngày 07/12/2015, kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, sau khi về sống chung hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng nhiều quan điểm nên xảy ra nhiều cuộc cãi vã và anh Ngh không lo làm ăn, không có trách nhiệm với vợ con, hiện chị Ph không còn tình cảm gì với anh Ngh, cuộc sống chung không thể kéo dài được nữa, nay chị Ph yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngh.

Ngược lại, anh Ngh cho rằng lý do chị Ph yêu cầu ly hôn không đúng sự thật, nên anh Ngh không đồng ý ly hôn.

Căn cứ vào lời khai của các đương sự thì sau khi kết hôn chị Ph và anh Ngh sống chung một thời gian ngắn nhưng anh Ngh không lo làm ăn, không có trách nhiệm với vợ con, đã 02 lần phạm tội và thực tế hiện anh Ngh đang chấp hành án tại Trại giam Đắc Tân. Do đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chị Ph và anh Ngh ngày càng trầm trọng, giữa hai người không còn thương yêu, chăm sóc, quý trọng lẫn nhau, thực tế hôn nhân không còn tồn tại. Vì vậy, việc chị Ph yêu cầu ly hôn với anh Ngh là có căn cứ, nên cần chấp nhận.

2.2, Về con chung: Chị Ph và anh Ngh có 01 con chung. Nhận thấy, sau khi sống ly thân chị Ph là người trực tiếp nuôi con, nay ly hôn chị Ph có nguyện vọng tiếp tục nuôi con, nên cần giao con chung là Hoàng Minh Th, sinh ngày 15/11/2014 cho chị Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp.

2.3, Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại chị Ph không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đề cập xem xét.

Anh Ngh có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

2.4, Về tài sản và nợ chung: Chị Ph và anh Ngh không ai yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung, nên không đề cập xem xét.

. Về án phí: Chị Ph phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Ph.

1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Ph được ly hôn với anh Hoàng Văn Ngh.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung là Hoàng Minh Th, sinh ngày 15/11/2014 cho chị Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hiện tại chị Ph không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đề cập xem xét.

Anh Ngh có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản và nợ chung: Chị Ph và anh Ngh không ai yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung, nên không đề cập xem xét.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 5 Điều 19; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án;

Chị Ph phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục THADS thị xã Buôn Hồ theo biên lai số AA/2021/0001410 ngày 25/3/2024.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ