vanban.org

Bản án 29/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Võ Thị Thu H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thu H được ly hôn với anh Hồ Văn H1. Về con chung: Giao các cháu Hồ Quỳnh N, sinh ngày 27/4/2016 và Hồ Thùy L, sinh ngày 01/12/2017 cho chị Võ Thị Thu H tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Hồ Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Thu H - Hồ Văn H1 ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Võ Thị Thu H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY AN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07/8/2024
V/v tranh chấp: “ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Tiến và bà Đỗ Thị Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngân–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) huyện Tuy An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 10/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/QĐ-ST ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thu H, sinh năm 1998; ĐKTT: Thôn H, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Hồ Văn H1, sinh năm 1996.

Trú tại: Thôn H, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn chị Võ Thị Thu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Võ Văn H2 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 29/02/2016 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Những năm đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường, đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, anh H2 hay ghen tuông, mỗi lần uống rượu là kiếm cớ gây sự dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, nhiều lần đánh, chửi mắng chị H, đập phá đồ đạc trong nhà. Xét thấy cuộc sống chung của vợ chồng không thể nào hòa hợp nên chị H đã về nhà cha mẹ ruột ở xã A, huyện T sinh sống. Chị H và anh H2 không còn sống chung với nhau từ năm 2023 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, cả hai không tìm được biện pháp khắc phục mâu thuẫn, cũng không ai quan tâm đến đời sống của ai. Cảm thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục sống chung được nữa nên chị H xin được ly hôn với anh H2.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Hồ Quỳnh N, sinh ngày 27/4/2016; Hồ Thùy L, sinh ngày 01/12/2017; Hiện cháu N, cháu L do chị H đang trực tiếp nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị H có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N và cháu L; chị H không yêu cầu anh H2 phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Hồ Văn H1 đã được TAND huyện Tuy An triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày và Tòa án không tiến hành hòa giải được.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký đều thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Bị đơn vắng mặt không có lý do nên đề nghị HĐXX căn cứ Điều 227, 228 của BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thu H. Về hôn nhân: chị H được ly hôn với anh H1; Về con chung: Giao các cháu Hồ Quỳnh N, sinh ngày 27/4/2016; Hồ Thùy L, sinh ngày 01/12/2017 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, HĐXX nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Võ Thị Thu H khởi kiện anh Hồ Văn H1 trú tại: Thôn H, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên về việc “Ly hôn”. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Tuy An. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Hồ Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần theo quy định pháp luật, tuy nhiên bị đơn vắng mặt không có lý do. Do đó, HĐXX căn cứ Điều 227 và Điều 228 của BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thu H và anh Hồ Văn H1 tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, được UBND xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 29/02/2016 nên được coi là hôn nhân hợp pháp.

HĐXX xét thấy: Chị H đề nghị Tòa án cho ly hôn vì quá trình chung sống chị H và anh H1 xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm, anh H1 hay ghen tuông, mỗi lần uống rượu là kiếm cớ gây sự dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, nhiều lần đánh, chửi mắng chị H, đập phá đồ đạc trong nhà. Cả hai đã không còn sống chung từ đầu năm 2023 đến nay, chị H xác định hiện nay không còn tình cảm với anh H1, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau và chị H kiên quyết ly hôn với anh H1. Quá trình giải quyết vụ án anh H1 được Tòa án triệu tập hòa giải nhiều lần nhưng đều vắng mặt là không có thiện chí hòa giải hàn gắn quan hệ hôn nhân, thể hiện sự thiếu trách nhiệm với gia đình.

Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và tài liệu chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa, HĐXX có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của chị H và anh H1 là trầm trọng do mâu thuẫn kéo dài và cả hai cũng không có biện pháp nào để khắc phục mâu thuẫn nên đời sống chung của vợ chồng thực tế không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị của Kiểm sát viên, chị H được ly hôn với anh H1.

Về con chung: chị H và anh H1 có 02 con chung tên Hồ Quỳnh N, sinh ngày 27/4/2016 và Hồ Thùy L, sinh ngày 01/12/2017; Cháu Như, cháu L đang sống cùng chị H, tình cảm mẹ con gắn bó, quá trình giải quyết vụ án, cháu N có văn bản trình bày nguyện vọng được sống với chị H. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định và sự phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần cho các cháu, cần tiếp tục giao cháu N, cháu L cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Võ Thị Thu H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227; Điều 228, Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Võ Thị Thu H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thu H được ly hôn với anh Hồ Văn H1.

2. Về con chung: Giao các cháu Hồ Quỳnh N, sinh ngày 27/4/2016 và Hồ Thùy L, sinh ngày 01/12/2017 cho chị Võ Thị Thu H tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Hồ Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Khi cần thiết, các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Võ Thị Thu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn nhưng được khấu trừ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0010615 ngày 03/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ