vanban.org

Bản án 29/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 08/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Đình V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ".

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Đình V 08 năm 6 tháng ( tám năm sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08.6.2022. Xử phạt: Bị cáo Trịnh Đình V: 7 năm ( bảy năm) tù . Thời hạn tù tính từ ngày 08.6.2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trịnh Đình Việt bị truy tố về tội "mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b,p khoản 2 Điều 251 BLHS và tội ""Tổ chức sử dụng trái p…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Đình V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ".
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN ND Q.SƠN TRÀ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HSST
Ngày 08.5.2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:- Ông Nguyễn Kim Thành, cán bộ hưu trí

-Ông Nguyễn Văn Đời, cán bộ hưu trí

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hƣơng Trà - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Sơn Trà TP Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2023/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2022/QĐXXST-HS ngày 17.4.2023 đối với bị cáo:

Trịnh Đình V. Sinh ngày: 25.02.1990, tại Đồng Nai.

HKTT: 02/19 Hồ Thị Hương, khu phố 1, phường XT, TP Long K, tỉnh Đồng Nai;

Chỗ ở: Phòng 0521 chung cư Monachy, số 535 Trần Hưng Đạo, phường AHT, quận S, TP Đà Nẵng;

Trình độ văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông

Quốc tịch: V Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: nam

Con ông Trịnh H A (SN 1956) và bà: Hồ Thị Xuân T (SN 1963);

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 08.6.2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng. Có mặt

* Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1.Ông Phạm Minh T, sinh năm 1987. Trú tại: Khu phố 2, phường Xuân Th, TP Long K, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

2.Ông Nguyễn Ngọc Linh Ph, sinh năm 1987. Trú tại: Khu phố 2, phường Xuân H, TP Long K, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

3.Ông Nguyễn Ngọc Phi H, sinh năm 1997. Trú tại: Khu phố Nông Doanh, phường Xuân T, TP Long K, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

4.Ông Nguyễn Lê Minh T, sinh năm 1996. Trú tại: K180/7A Hồ Thị Hương, phường XT, TP Long K, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

5.Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1995. Trú tại: Khu phố Bảo Vinh A, phường Bảo V, TP Long K, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

6.Ông Phan Khắc H, sinh năm 1990. Trú tại: Ấp Nam Hà, xã Xuân B, huyện CM, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 8 giờ 15 phút ngày 08/6/2022, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại phòng 0521 chung cư Monarchy (số 535 Trần Hưng Đạo, phường AHT, quận S) có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên Đội CSĐT tội phạm về ma tuý Công an quận Sơn Trà phối hợp với Công an phường An H Tây tiến hành kiểm tra hành chính thì phát hiện tại hành lang tầng 5 chung cư Monarchy đối tượng Trịnh Đình V có biểu hiện nghi vấn nên lực lượng công an tiến hành kiểm tra thì phát hiện trong túi quần jean bên pH, phía trước V đang mặc có 01 gói nylong kích thước (4x8)cm, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng; 01 gói nylong kích thước (4x8)cm bên trong có chứa 02 viên nén màu vàng có in dòng chữ “UPS”. V khai nhận đây là ma túy tổng hợp loại Ketamine và thuốc lắc của V. Ngoài ra, V còn khai nhận đang cất giấu ma túy trong túi xách của V tại phòng ngủ phòng 0521 nên lực lượng công an tiến hành kiểm tra phòng 0521. Khi vào phòng 0521 thì có Nguyễn Ngọc Phi H (SN 1997; HKTT: Đường số 16, phường Xuân T, TP Long K, tỉnh Đồng Nai), Phạm Minh T (SN 1987; HKTT: 234 H Diệu, phường Xuân Th, TP Long K, tỉnh Đồng Nai), Nguyễn Ngọc Linh Ph (SN 1987; HKTT: Tổ 11, khối phố 2, phường Xuân H, TP Long K, tỉnh Đồng Nai), Nguyễn Ngọc T (SN 1993; HKTT: Khối phố Ruộng Hời, phường Bảo V, TP Long K, tỉnh Đồng Nai), Phan Khắc H (SN 1990; HKTT: Ấp Nam Hà, xã Xuân B, huyện CM, tỉnh Đồng Nai), Nguyễn Lê Minh T (K180/7A Hồ Thị Hương, phường XT, TP Long K, tỉnh Đồng Nai) cũng đang lưu trú trong phòng. Lực lượng công an tiến hành kiểm tra phòng ngủ của V thì phát hiện trong túi xách màu nâu của V có chứa 01 bao nylong màu đỏ bên trong có 03 gói màu xanh kích thước (10x6)cm, có in dòng chữ CRISPY FRUIT bên trong có chứa chất bột màu tím; 01 gói nylong kích thước (7x11)cm bên trong có chứa 16 viên nén màu vàng có in dòng chữ “UPS”; 12 gói nylong kích thước (4x8)cm bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng, 01 cân tiểu ly màu xanh đen kích thước (8x15)cm; 100 gói nylong kích thước (9x6)cm bên trong không chứa gì; 100 gói nylong kích thước (4x7)cm bên trong không có gì; 100 gói nylong kích thước (5x9)cm bên trong không có gì. Toàn bộ các tang vật này V khai nhận là ma túy tổng hợp V mua về nhằm mục đích sử dụng và bán lại cho con nghiện kiếm lời thì bị lực lượng công an bắt quả tang. Ngoài ra, kiểm tra xung quanh căn hộ Cơ quan Công an còn thu giữ 01 dĩa nhựa màu vàng bên mặt dưới có bám màu đen (đã qua sử dụng), 01 hộp trụ tròn bằng kim loại màu vàng nhạt bên trên nắp có chữ “Amstesdam” ở trên bàn máy tính phòng khách; 01 ống hút tự tạo bằng tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng; 01 thẻ nhựa màu cam có dòng chữ Vietnamobile; 01 ống hút nhựa dài khoảng 12cm ở trên tủ lạnh phòng khách.

Tang vật thu giữ:

- 01 gói nylong kích thước (4x8)cm, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng; 01 gói nylong kích thước (4x8)cm bên trong có chứa 02 viên nén màu vàng có in dòng chữ “UPS”, niêm phong ký hiệu V1;

- 03 gói màu xanh kích thước (10x6)cm, có in dòng chữ CRISPY FRUIT bên trong có chứa chất bột màu tím, niêm phong ký hiệu V2;

- 01 gói nylong kích thước (7x11)cm bên trong có chứa 16 viên nén màu vàng có in dòng chữ “UPS”; 12 gói nylong kích thước (4x8)cm bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng, niêm phong ký hiệu V3;

- 01 cân tiểu ly màu xanh đen kích thước (8x15)cm;

- 100 gói nylong kích thước (9x6)cm bên trong không chứa gì;

- 100 gói nylong kích thước (4x7)cm bên trong không có gì;

- 100 gói nylong kích thước (5x9)cm bên trong không có gì;

- 01 dĩa nhựa màu vàng bên mặt dưới có bám màu đen (đã qua sử dụng);

- 01 ống hút tự tạo bằng tờ tiền V Nam mệnh giá 10.000 đồng;

- 01 thẻ nhựa màu cam có dòng chữ Vietnamobile;

- 01 ống hút nhựa dài khoảng 12cm;

- 01 hộp trụ tròn bằng kim loại màu vàng nhạt bên trên nắp có chữ “Amstesdam”;

- 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 13 pro màu xanh;

- Số tiền 1.750.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số: 115/GĐ-MT ngày 16/6/2022 của Phòng KTHS Công an TP Đà Nẵng xác định:

Mẫu V1 ở dạng khác nhau được chia thành 02 mẫu ký hiệu V1a và V1b, mẫu V2 ở dạng khác nhau được chia thành 02 mẫu ký hiệu V3a và V3b.

- Viên nén màu vàng ký hiệu V1a và V3a gửi giám định là ma túy loại MDMA, khối lượng mẫu V1a: 1,093 gam, mẫu V3a: 8,777 gam, tổng khối lượng 9,87 gam.

- Tinh thể rắn màu trắng ký hiệu V1b và V3b gửi giám định là ma túy loại Ketamine, khối lượng mẫu V1b: 3,217 gam, mẫu V3b: 46,239 gam, tổng khối lượng: 49,456 gam.

- Đề nghị CQĐT chuyển Viện KHHS giám định mẫu V2. Khối lượng mẫu V2: 17,932 gam.

Tại Kết luận số: 900/KL-KTHS ngày 12/7/2022 của Phân viện KHHS TP Đà Nẵng xác định: Chất bột màu tím ký hiệu V2 bên trong niêm phong gửi giám định có tìm thấy ma túy, loại MDMA, Methamphetamine và Nimetazepam.

Tại Kết luận số: 139/KL-KTHS ngày 25/01/2023 của Phân viện KHHS TP Đà Nẵng xác định: Chất rắn màu tím ký hiệu V2 gửi giám định có hàm lượng MDMA là 1,29%, hàm lượng Methamphetamine là 7,27%, Nimetazepam trong mẫu ở dạng vết (hàm lượng thấp dưới giới hạn định lượng của phương pháp) nên không xác định được hàm lượng.

Qua điều tra xác định: Khoảng đầu tháng 5/2022, Trịnh Đình V liên hệ với đối tượng tên Huy H (ở TP HCM) mua 50.000.000 đồng tiền ma túy với mục đích sử dụng và bán lại kiếm lời. Sau đó, V chuyển tiền cho H bằng dịch vụ chuyển tiền thông qua một người tại sân bay Tân Sơn Nhất (V đưa tiền mặt và đưa số tài khoản của H rồi người này chuyển tiền cho H), H gửi ma túy ra Đà Nẵng cho V bằng dịch vụ chuyển phát nhanh. Sau khi có ma túy, V dùng cân tiểu ly chia thành các gói nhỏ rồi cất giấu trong phòng ngủ để sử dụng và bán lại, V đã bán ma túy được cho 02 người, cụ thể như sau:

+ Vào khoảng đầu tháng 5/2022, V đã bán cho Nguyễn Ngọc Phi H 01 gói ketamine và 01 gói nước nho với số tiền 7.000.000 đồng, giao dịch tại phòng 5021 Chung cư Monarchy (phù hợp với lời khai của H).

+ Vào khoảng giữa tháng 5/2022, trong khi đi nhậu với nhóm bạn (V không nhớ rõ địa điểm nhậu), V có bán cho 01 thanh niên mới quen trong bàn nhậu (không rõ nhân thân, lai lịch) 02 viên thuốc lắc với số tiền 400.000 đồng/viên.

Số ma túy còn lại V cất giấu trong phòng ngủ để sử dụng và bán lại thì bị cơ quan công an phát hiện, bắt quả tang thu giữ cùng tang vật.

Ngoài ra, qua điều tra còn xác định: Vào tối ngày 04/6/2022, trong lúc ngồi ăn nhậu tại phòng 0521, V có mang 01 gói “nước nho” (màu xanh) có in dòng chữ CRISPY FRUIT bên trong có chứa chất bột màu tím (là ma túy V đã mua trước đó của đối tượng Huy H) ra pha với nước ngọt và rót cho các đối tượng Nguyễn Ngọc Phi H, Nguyễn Ngọc Linh Ph, Nguyễn Ngọc Trí, Nguyễn Lê Minh T cùng uống. Sau đó, V lấy 01 gói ma túy loại ketamine (là ma túy V đã mua trước đó của đối tượng Huy H) rồi đổ vào đĩa nhựa màu vàng, rồi V dùng thẻ nhựa màu cam có dòng chữ Vietnamobile xào ketamine rồi kẻ ra các đường, dùng tờ tiền V Nam mệnh giá 10.000 đồng quấn lại để làm ống hút và lấy thêm 01 ống hút nhựa dài khoảng 12cm để hít ma túy rồi các đối tượng cùng nhau sử dụng và ăn nhậu. Riêng Phạm Minh T không sử dụng nước nho và ma túy ketamine mà đi ngủ. Tối ngày 05/6/2022, Phan Khắc H từ Đồng Nai đến phòng 0521 thì thấy các đối tượng V, H, Ph, T, Tr, To đã đi ngủ, thấy trên dĩa trong phòng 0521 còn ketamine nên H tự ý lấy sử dụng. Căn hộ 5021 là do Phạm Minh T thuê để cho Trịnh Đình V, Nguyễn Ngọc Linh Ph, Nguyễn Ngọc Phi H, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Lê Minh T ở và làm việc cho T. Theo T khai nhận, thời điểm V mang ma túy ra cho mọi người cùng sử dụng thì T đã đi ngủ nên không biết việc V tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời, Nguyễn Ngọc Linh Ph, Nguyễn Ngọc Phi H, Nguyễn Lê Minh T, Nguyễn Ngọc T cũng khai nhận thời điểm V lấy ma túy ra thì T đi ngủ, tuy nhiên chưa làm rõ được T có biết hay không việc V rủ mọi người sử dụng ma túy.

Kết quả xét nghiệm tại Công an phường An H Tây ngày 08/6/2022: Trịnh Đình V, Nguyễn Ngọc Phi H, Nguyễn Ngọc Linh Ph, Nguyễn Ngọc T, Phan Khắc H, Nguyễn Lê Minh T dương tính với ma túy ketamine, Phạm Minh T âm tính với ma túy.

Tuy nhiên, đến ngày 13/9/2022, Trịnh Đình V thay đổi lời khai, khai nhận nội dung: Vào tối ngày 04/6/2022, việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là do đối tượng Nương (là bạn gái của Phạm Minh T) khởi xướng, sau đó T đồng ý thì V đi mua ma túy về cho cả nhóm sử dụng. Ngoài ra, V còn khai nhận giữa Nương và V có nhắn tin qua lại trên ứng dụng Telegram thể hiện việc Nương hỏi V mua ma túy (vào ngày 04/6/2022) hết bao nhiêu tiền để Nương chuyển khoản trả, đồng thời Nương có nói V cất một ít ketamine cho Nương để Nương mang về Hà Nội, sau đó khoảng tối ngày 04/6/2022 hoặc sáng ngày 05/6/2022, Nương đã chuyển khoản vào tài khoản VIB, số tài khoản 339793979 của V tổng số tiền 12.000.000 đồng (trong đó 9.500.000 đồng là tiền V mua ma túy vào ngày 04/6/2022, 2.500.000 đồng là tiền lần trước V đã mua ma túy và cả nhóm đã sử dụng trước đó). Tuy nhiên, qua kiểm tra điện thoại của V thì không phát hiện nội dung tin nhắn trên. Ngoài ra, Cơ quan điều tra đã tiến hành yêu cầu phòng an ninh mạng Công an TP Đà Nẵng khôi phục các tin nhắn trong ứng dụng telegram của Trịnh Đình V nhưng không có các nội dung tin nhắn giữa V và Nương về việc mua ma túy về sử dụng. Sao kê tài khoản ngân hàng VIB, số tài khoản 339793979 của V cũng không có nội dung Nương đã chuyển tiền mua ma túy cho V. Đồng thời, Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập các đối tượng Phạm Minh T, Nguyễn Ngọc Linh Ph, Nguyễn Ngọc Phi H, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Khắc H, Nguyễn Lê Minh T để lấy lời khai, làm rõ hành vi của T và đối tượng Nương nhưng hiện các đối tượng trên không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ (đã có biên bản xác minh, Quyết định truy tìm các đối tượng nêu trên).

* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà giữ nguyên quan điểm truy tố theo Bản cáo trạng số 15/CT-VKS-ST ngày 10.02.2023 và đề nghị mức án:

Căn cứ điểm b,p khoản 2, Điều 251, điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt Trịnh Đình V từ 09 năm đến 09 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Căn cứ điểm b khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt Trịnh Đình V từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Căn cứ Khoản 1 Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo pH chấp hành.

*Về xử lý vật chứng:

+Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong theo Kết luận giám định số:115/GĐ-MT ngày 16/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Đà Nẵng, kí hiệu mẫu V1a, V1b và vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì niêm phong theo Kết luận giám định số:115/GĐ-MT ngày 16/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Đà Nẵng, kí hiệu mẫu V3a, V3b và vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì niêm phong theo Kết luận giám định số:139/KL-KTHS ngày 25/01/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng, kí hiệu mẫu V2 và vỏ bao gói mẫu; 100 gói nylong kích thước (9x6)cm, không chứa gì; 100 gói nylong kích thước (7x4)cm, không chứa gì; 100 gói nylong kích thước (9x5)cm, không chứa gì; 01 cân tiểu ly; 01 đĩa nhựa màu vàng; 01 thẻ nhựa màu cam có dòng chữ Vietnamobile; 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 hộp trụ tròn bằng kim loại màu vàng trên nắp có chữ “Amstesdam”;

+Tịch thu sung công: 01 ống hút được cuốn từ tờ tiền 10.000 đồng; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 13 pro màu xanh, số IMEI: 359349738136934, gắn sim số 0979250290 (trên sim có dãy số: 662)

+Quy trữ đảm bảo thi hành án số tiền 1.750.000 đồng

* Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải, hiện nay bị cáo đã ly hôn vợ, đang nuôi con nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

Về tội danh : Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Vào lúc 8h15 phút ngày 08.6.2022, tại hành lang tầng 5, chung cư Monarchy, Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an quận Sơn Trà đã tiến hành kiểm tra Trịnh Đình V phát hiện trong túi quần jean bên pH, phía trước V đang mặc có 01 gói nylong kích thước (4x8)cm, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng; 01 gói nylong kích thước (4x8)cm bên trong có chứa 02 viên nén màu vàng có in dòng chữ “UPS”. V khai nhận đây là ma túy tổng hợp loại Ketamine và thuốc lắc của V. Ngoài ra, V còn khai nhận đang cất giấu ma túy trong túi xách của V tại phòng ngủ phòng 0521 nên lực lượng công an tiến hành kiểm tra phòng 0521 thu giữ trong túi xách có 01 bao nylong màu đỏ bên trong có 03 gói màu xanh kích thước (10x6)cm, có in dòng chữ CRISPY FRUIT bên trong có chứa chất bột màu tím; 01 gói nylong kích thước (7x11)cm bên trong có chứa 16 viên nén màu vàng có in dòng chữ “UPS”; 12 gói nylong kích thước (4x8)cm bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng, 01 cân tiểu ly màu xanh đen kích thước (8x15)cm; 100 gói nylong kích thước (9x6)cm bên trong không chứa gì; 100 gói nylong kích thước (4x7)cm bên trong không có gì; 100 gói nylong kích thước (5x9)cm bên trong không có gì.

Theo kết luận giám định của Phòng KTHS Công an TP. Đà Nẵng kết luận: số ma túy thu giữ là:11,405 gam ma túy, loại Methamphetamine và MDMA, 49,456 gam ma túy loại Ketamine (theo Điểm b Khoản 3 Điều 5 Nghị định số: 19/2018 ngày 02/02/2018 thì tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy là 87,473 %)

Bị cáo khai nhận số ma túy trên, bị cáo mua của đã mua của đối tượng Huy H 50.000.000 đồng tiền ma túy (nước nho, ketamine và thuốc lắc). Bị cáo đã bán cho Nguyễn Ngọc Phi H 01 gói ketamine và 01 gói nước nho với số tiền 7.000.000 đồng giao dịch tại phòng 0521 Chung cư Monarchy và bán cho 01 thanh niên (không rõ lai lịch) 02 viên thuốc lắc với số tiền 400.000 đồng/viên. Số ma túy trên, bị cáo mua về sử dụng và bán lại cho các con nghiện để kiếm lời.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 BLHS. Do bị cáo đã có hành vi mua bán Ma tuý có hai chất ma túy và bán cho 02 người trở lên nên pH chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung “Phạm tội hai lần trở lên” và “Phạm tội có hai chất ma túy trở lên mà khối lượng hoặc thể tích của hai chất đó tương đương với tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o” theo quy định tại điểm b,p khoản 2 điều 251 BLHS.

Ngoài ra, vào khoảng 21 giờ ngày 04/6/2022, tại căn hộ 0521, V đã có hành vi cung cấp ma túy (loại ketamine, MDMA, Methamphetamine) cho các đối tượng Nguyễn Ngọc Phi H, Nguyễn Ngọc Linh Ph, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Lê Minh T để cùng nhau sử dụng chung. Như vậy bị cáo đã có hành vi chuẩn bị địa điểm, cung cấp ma túy, dụng cụ cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS.

Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội danh và điều khoản áp dụng.

. Xét tính chất vụ án thì thấy: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Để có ma túy sử dụng và kiếm tiền tiêu xài nên bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, bán cho con nghiện, nhiều lần trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy rõ được tác hại nguy hiểm của ma túy có khả năng gây nghiện mạnh, nguy hiểm cho sức khỏe con người nhưng lại cố ý tụ tập, tổ chức, tạo điều kiện cho nhiều người khác cùng sử dụng ma túy. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm rất lớn cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ra nhiều tệ nạn, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời còn xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe con người và lan tràn tệ nạn nghiện hút.

. Xét tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cãi, khi bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang trong người bị cáo có cất giấu ma túy tại hàng lang tầng 5 chung cư Monarchy thì bị cáo còn tự khai báo số ma túy cất giấu trong phòng ngủ của V tại căn hộ 0521, bị cáo đã ly hôn vợ hiện đang nuôi con nhỏ. Do vậy, khi lượng hình HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s,r khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt khi lượng hình để thể hiện tính nhân đạo của nhà nước.

. Xét tình tiết tăng nặng: không

. Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản bắt quả tang ngày 08.6.2022 có thu giữ của bị cáo số tiền 1.750.000 đồng là tài sản của bị cáo nên HĐXX xét thấy cần áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS để phạt tiền bổ sung đối với bị cáo số tiền 5.000.000 đồng là phù hợp.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS

+Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong theo Kết luận giám định số:115/GĐ-MT ngày 16/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Đà Nẵng, kí hiệu mẫu V1a, V1b và vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì niêm phong theo Kết luận giám định số:115/GĐ-MT ngày 16/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Đà Nẵng, kí hiệu mẫu V3a, V3b và vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì niêm phong theo Kết luận giám định số:139/KL-KTHS ngày 25/01/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng, kí hiệu mẫu V2 và vỏ bao gói mẫu; 100 gói nylong kích thước (9x6)cm, không chứa gì; 100 gói nylong kích thước (7x4)cm, không chứa gì; 100 gói nylong kích thước (9x5)cm, không chứa gì; 01 cân tiểu ly; 01 đĩa nhựa màu vàng; 01 thẻ nhựa màu cam có dòng chữ Vietnamobile; 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 hộp trụ tròn bằng kim loại màu vàng trên nắp có chữ “Amstesdam”;

+Tịch thu sung công: 01 ống hút được cuốn từ tờ tiền 10.000 đồng; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 13 pro màu xanh, số IMEI: 359349738136934, gắn sim số 0979250290 (trên sim có dãy số: 662)

+Quy trữ đảm bảo thi hành án số tiền 1.750.000 đồng

Vật chứng này hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23.3.2023 )

Đối với hành vi của đối tượng tên Huy H - là người đã bán ma túy cho Trịnh Đình V, do hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà tách ra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là phù hợp.

Đối với Phạm Minh T và đối tượng tên Nương, do từ khi bị bắt quả tang, Trịnh Đình V không khai nhận nội dung T và Nương là người khởi xướng việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 13/9/2022, V mới khai nhận nội dung trên, đồng thời, quá trình điều tra chưa xác định được T có biết hay không việc V sử dụng địa điểm (căn hộ 0521 chung cư Monarchy do T thuê ở) để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên hiện nay lại không làm việc được với đối tượng Phạm Minh T và đối tượng Nương cũng như các đối tượng Nguyễn Ngọc Linh Ph, Nguyễn Ngọc Phi H, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Lê Minh T để làm rõ hành vi, vai trò của T và Nương trong vụ án, đồng thời tại biên bản xét nghiệm ma túy ngày 08/6/2022, T âm tính với ma túy, do đó, Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà tách ra điều tra xác minh xử lý sau là có cơ sở.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trịnh Đình V, Nguyễn Ngọc Linh Ph, Nguyễn Ngọc Phi H, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Khắc H, Nguyễn Lê Minh T, Công an quận Sơn Trà ra Quyết định xử lý hành chính là có căn cứ.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án thì bị cáo pH nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Đình V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ".

- Căn cứ: điểm b,p khoản 2 Điều 251; điểm s,r khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS.

- Xử phạt: Bị cáo Trịnh Đình V 08 năm 6 tháng ( tám năm sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08.6.2022.

- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS.

- Xử phạt: Bị cáo Trịnh Đình V: 7 năm ( bảy năm) tù . Thời hạn tù tính từ ngày 08.6.2022.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 55: Tổng hợp hình phạt cả hai tội, buộc bị cáo Trịnh Đình V pH chấp hành là 15 năm 6 tháng (mười lăm năm sáu tháng) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08.6.2023.

2.Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS phạt tiền đối với bị cáo Trịnh Đình V số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

3.Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS tuyên:

+Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong theo Kết luận giám định số:115/GĐ-MT ngày 16/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Đà Nẵng, kí hiệu mẫu V1a, V1b và vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì niêm phong theo Kết luận giám định số:115/GĐ-MT ngày 16/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Đà Nẵng, kí hiệu mẫu V3a, V3b và vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì niêm phong theo Kết luận giám định số:139/KL-KTHS ngày 25/01/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng, kí hiệu mẫu V2 và vỏ bao gói mẫu; 100 gói nylong kích thước (9x6)cm, không chứa gì; 100 gói nylong kích thước (7x4)cm, không chứa gì; 100 gói nylong kích thước (9x5)cm, không chứa gì; 01 cân tiểu ly; 01 đĩa nhựa màu vàng; 01 thẻ nhựa màu cam có dòng chữ Vietnamobile; 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 hộp trụ tròn bằng kim loại màu vàng trên nắp có chữ “Amstesdam”;

+Tịch thu sung công: 01 ống hút được cuốn từ tờ tiền 10.000 đồng; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 13 pro màu xanh, số IMEI: 359349738136934, gắn sim số 0979250290 (trên sim có dãy số: 662)

+Quy trữ đảm bảo thi hành án số tiền 1.750.000 đồng

Vật chứng này hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23.3.2023 )

5. Án phí HSST: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án bị cáo pH chịu 200.000 đồng

6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ