- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2023/HS-ST Ngày: 10-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Quang Bảo
Bà Trần Thị Nhung
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Phạm Bá Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Ngọc B, sinh ngày 30 tháng 9 năm 1973 tại: Thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: 036073011652; nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn P, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc V và bà Trần Thị L; có vợ Đào Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09-3-2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 01 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05-11-2022, chuyển tạm giam từ ngày 14-11-2022 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Nam Định. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Ông Bùi Văn T
Ông Đỗ Văn T1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 04-11-2022, tổ công tác Công an phường Cửa Nam, thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 1 Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện thấy Phạm Ngọc B đang điều khiển xe máy biển kiểm soát 18F9-7383 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Phạm Ngọc B đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 túi nhỏ ni-long màu đen, bên trong có chứa 10 gói giấy bạc nhỏ màu trắng, bên trong mỗi gói giấy bạc đều chứa chất bột dạng cục màu trắng. Phạm Ngọc B khai là Heroine vừa mua để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, mời người làm chứng và đưa Phạm Ngọc B về trụ sở Công an phường Cửa Nam lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định pháp luật. Ngoài ra còn tạm giữ của Phạm Ngọc B 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18F9-7383 đã cũ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã ra quyết định trưng cầu giám định vật chứng thu giữ của Phạm Ngọc B. Tại Bản kết luận giám định số 1591/GĐKTHS ngày 09-11-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng, trong 10 gói giấy bạc màu trắng, đựng trong 01 túi ni-long màu đen thu giữ của Phạm Ngọc B, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine, khối lượng mẫu: 0,447 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Ngọc B khai nhận như sau: Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 04-11-2022, Phạm Ngọc B điều khiển xe máy biển kiểm soát 18F9-7383 đi một mình từ nhà đến khu vực gầm cầu Đò Quan, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, Phạm Ngọc B gặp một cháu nhỏ khoảng 10 tuổi (không rõ lai lịch, địa chỉ) là người bán ma túy do bạn bè giới thiệu. Phạm Ngọc B hỏi mua 500.000 đồng Heroine. Cháu bé đồng ý, nhận tiền rồi bảo Phạm Ngọc B đứng đợi. Khoảng 10 phút sau, cháu bé quay lại đưa cho Phạm Ngọc B 01 túi ni-long chứa ma túy. Phạm Ngọc B cầm túi Heroine trên tay phải rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng. Khi Phạm Ngọc B đi đến khu vực tổ 1 Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định thì bị phát hiện, bắt giữ.
Bản cáo trạng số 24/CT-VKS-TPNĐ ngày 06-01-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Phạm Ngọc B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc B đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Phạm Ngọc B tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc B từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma túy đã thu giữ. Trả lại chiếc xe máy biển kiểm soát 18F9-7383 cho bị cáo Phạm Ngọc B, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo Phạm Ngọc B nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc B không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Ngọc B trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 04-11-2022; Biên bản thu giữ vật chứng ngày 04-11-2022; Bản kết luận giám định số 1591/GĐKTHS ngày 09-11-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 04-11-2022, tại khu vực tổ 1 Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định, bị cáo Phạm Ngọc B đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,447 gam Heroine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Hành vi của bị cáo Phạm Ngọc B là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,447 gam. Vì vậy bị cáo Phạm Ngọc B đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Phạm Ngọc B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Phạm Ngọc B không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Ngọc B là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Nam Định; bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị phạt tù về tội “Tổ chức đánh bạc” nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Phạm Ngọc B không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo Phạm Ngọc B là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18F9-7383 là tài sản hợp pháp của bị cáo Phạm Ngọc B, không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Về án phí:
Bị cáo Phạm Ngọc B bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc B 01 năm 06 tháng tù (một năm sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 05-11-2022.
2. Xử lý vật chứng:
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy gói ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 1591/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.
Trả lại cho bị cáo Phạm Ngọc B chiếc xe máy biển kiểm soát 18F9-7383 đã cũ, số khung 67501744, số máy 6501846, yên xe bị rách, yếm xe bị vỡ, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11-01-2023).
3. Án phí:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Phạm Ngọc B phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Phạm Ngọc B có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Phạm Ngọc B có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Tuấn |