vanban.org

Bản án 29/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 17/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà D H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
Toµ ¸n NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------------
Bản án số: 29/2023/HS-ST
Ngày 17 tháng 02 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Ngọc Thịnh

2. Bà Đào Phương Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Việt Anh – Thư ký Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 269/2022/HSST ngày 21 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 269/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Hà D H - Sinh năm 23/11/2004; ĐKNKTT tại: Hện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tư do; Trình độ học vấn:10/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ : Không rõ; Mẹ đẻ: Hà Thị N; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

+ Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thu Ngân – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố Hà Nội, có mặt;

+ Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hà D H: Bà Hà Thị N, sinh năm 1976 (là mẹ đẻ bị cáo); Trú tại: Hện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ; Có đơn xin vắng mặt;

+ Người bị hại: Chị Ngô Hoàng Thu T, sinh năm 2003

ĐKHKTT: Hện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Nơi ở: quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội; Có đơn xin xét xử vắng mặt;

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Trịnh Thị L, sinh năm 1980

ĐKHKTT tại: Hện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội ; Có đơn xin xét xử vắng mặt;

2. Chị Đinh Thúy Q, sinh năm 2004

Trú tại: Hện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ; Có đơn xin xét xử vắng mặt;

3. Bà Hà Thị N, sinh năm 1976

Nơi cư trú: Hện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Có đơn xin vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Ngô Hoàng Thu T và Hà D H cùng là “booking” của một quán bar trên địa bàn phường Hàng Buồm từ tháng 6/2022. Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 23/8/2022, chị T nhờ H mang chiếc xe máy điện nhãn hiệu ESPERO GOGO màu trắng, không biển kiểm soát, số khung: RPEYGENPELA310574, số máy: JYX60V1500W810574 từ số 5 Hàng Chĩnh, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội về nhà H tại số 14 ngách 25 ngõ Thổ Quan, phường Thổ Quan, quận Đống Đa, Hà Nội cất hộ.

Sau khi mang xe về nhà, H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe lấy tiền trả nợ. Khoảng 09 giờ cùng ngày, H mang chiếc xe đến cầm cố tại cửa hàng sửa chữa xe đạp điện số 496 Đường Láng, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội của chị Trịnh Thị L. Chị L yêu cầu H cung cấp căn cước công dân và giấy chứng nhận đăng ký xe để xác nhận nguồn gốc xe. Sau đó, H nói dối với chị T đang mang xe đi sửa chữa, bảo hành, chủ cửa hàng yêu cầu cung cấp thông tin chủ xe. Chị T đã gửi cho H ảnh căn cước công dân và giấy chứng nhận đăng ký xe. H cho chị L xem ảnh căn cước công dân và giấy chứng nhận đăng ký xe đồng thời nói mới mua lại chiếc xe, chưa sang tên và để quên giấy tờ xe ở nhà, hẹn sẽ đưa giấy tờ sau nên chị L đồng ý cầm cố chiếc xe với giá 6.000.000 đồng. Chị T nhiều lần liên lạc yêu cầu H trả lại xe nhưng H không trả và tìm mọi lý do để trì hoãn nên ngày 16/9/2022, chị T đến Công an phường Hàng Buồm trình báo.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 186/KL- HĐĐGTS ngày 21/9/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: Chiếc xe máy điện nhãn hiệu ESPERO GOGO màu trắng, không gắn BKS, số khung: RPEYGENPELA310574, số máy: JYX60V1500W810574 trị giá 16.000.000 đồng.

Đến 11 giờ 15 phút ngày 16/9/2022, Hà D H đến Công an phường Hàng Buồm đầu thú và khai nhận hành vi như đã nêu trên. Số tiền cầm đồ, H nhờ chị L chuyển khoản 2.000.000 đồng cho chị Đinh Thuý Q để trả nợ. Còn lại 4.000.000 đồng, H sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Chị Ngô Hoàng Thu T khai phù hợp với lời khai của Hà D H. Ngày 13/11/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy điện cho chị Ngô Hoàng Thu T. Sau khi nhận lại tài sản, chị T không có yêu cầu đề nghị khác về dân sự.

Chị Trịnh Thị L khai phù hợp với lời khai của Hà D H. Chị L tự nguyện giao nộp chiếc xe máy điện nhãn hiệu ESPERO GOGO màu trắng, không gắn BKS. Chị L không biết nguồn gốc chiếc xe máy điện do H chiếm đoạt mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý. Chị L đã được gia đình Hà D H bồi thường số tiền 6.000.000 đồng và không có yêu cầu, đề nghị khác về dân sự.

Chị Đinh Thúy Q khai: H nợ chị Q số tiền 6.000.000 đồng. Ngày 23/8/2022, H có trả cho chị Q số tiền 2.000.000 đồng thông qua tài khoản số 33336662004 mang tên Trịnh Thị L mở tại Ngân hàng TMCP Quân đội. Chị Q không biết nguồn gốc số tiền trên do đâu mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Tại bản cáo trạng số 264/CT-VKS ngày 16/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo Hà D H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức còn hạn chế; Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn; có nhiều tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, đã tác động để gia đình bồi thường khắc phục hậu quả, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt mức án thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng; Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung; Về dân sự không xem xét; Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra - Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Hà D H khai nhận hành vi như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của những người bị hại, người liên quan, vật chứng, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 23/8/2022, Hà D D đã có hành vi lợi dụng sự tín nhiệm giao xe của chị Ngô Hoàng Thu T cho mình tại khu vực vỉa hè trước số 5 Hàng Chĩnh, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, sau đó H đã dùng thủ đoạn gian dối lấy thông tin của chị T, cầm cố chiếc xe máy điện nhãn hiệu ESPERO GOGO màu trắng, không gắn BKS, số khung: RPEYGENPELA310574, số máy: JYX60V1500W810574, trị giá 16.000.000 đồng của chị Ngô Hoàng Thu T cho chị Trịnh Thị L đ lấy số tiền 6.000.000 đồng sử dụng vào việc cá nhân.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, do đó cần thiết phải có hình phạt tù đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải; Bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; Tài sản đã được thu hồi và trả cho người bị hại, người bị hại có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội đã tự giác ra đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Mặt khác xét bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo; xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật và không gây nguy hiểm cho xã hội; không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy, người bị hại chị Ngô Hoàng Thu T đã nhận lại chiếc xe máy điện nhãn hiệu ESPERO GOGO màu trắng, không gắn BKS, số khung: RPEYGENPELA310574, số máy: JYX60V1500W810574 ; chị Trịnh Thị L đã nhận lại số tiền 6.000.000 đồng, chị T, chị L không có yêu cầu gì khác về việc bồi thường; bà Hà Thị N không yêu cầu gì về số tiền bồi thường thay bị cáo do đó vấn đề trách nhiệm dân sự Tòa án không đặt ra để xem xét nữa.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;

V× c¸c lÏ trªn!

QuyÕt ®Þnh:

1. Tuyên bố bị cáo Hà D H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Hà D H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Hà D H cho Ủy ban nhân dân Huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

3. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toµ ¸n: Buộc bị cáo Hà D H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo, người bào chữa của bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. N¬i nhËn:

Cỡ chữ