vanban.org

Bản án 29/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên Tuyên án 11/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Các bị cáo Lường Văn N và Quàng Văn M đều phạm tội: “Tàng

trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt: Bị cáo Lường Văn N: 01 (Một) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Quàng Văn M: 01 (Một) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù của các bị cáo tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 12/9/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn N - Lò văn M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Các bị cáo Lường Văn N và Quàng Văn M đều phạm tội: “Tàng
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUẦN G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN B
Bản án số: 29/2023/HS-ST
Ngày: 11 - 12- 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đình H

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quàng Văn T

2. Bà Bạc Thị Ph

- Thư ký phiên toà: Ông Thào A Th - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện B.

- Đại diện VKSND huyện Tuần G, tỉnh Điện B tham gia phiên toà: Bà Lường Phương Th - Kiểm sát viên.

Ngày 11/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2023/TLST-HS ngày 24/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXXST-HS ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuần G đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lường Văn N; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1988 tại huyện Tuần G, tỉnh Điện B; nơi cư trú: Bản C, xã Quài N, huyện Tuần G, tỉnh Điện B; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: nông nghiệp; trình độ học vấn: Lớp 09; con ông: Lường Văn S, sinh năm 1958; con bà: Lường Thị B, sinh năm 1958; Vợ thứ nhất: Tòng Thị L, sinh năm 1986 (Đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2005; vợ thứ hai là Lò Thị Ng, sinh năm 1982; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2023 đến ngày xét xử, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Quàng Văn M; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1988 tại huyện Tuần G, tỉnh Điện B; nơi cư trú: Bản C, xã Quài N, huyện Tuần G, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: nông nghiệp; trình độ học vấn: Lớp 09; con ông: Quàng Văn X, sinh năm 1942; con bà: Quàng Thị B (Đã chết); Vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2023 đến ngày xét xử, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ, ngày 12/9/2023, Lường Văn N cùng Quàng Văn M đi bộ từ nhà Lường Văn N tại bản C, xã Quài N, huyện Tuần G, tỉnh Điện B đến khu vực ngã ba chợ Minh Th thuộc xã Quài N, huyện Tuần G, tỉnh Điện B để bốc vác hàng thuê cho xe tải đang dừng đỗ tại chợ Minh Th.

Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày sau khi bốc vác hàng hóa xong, N và M được người thuê bốc hàng hóa trả tiền công cho cả hai người một tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Do Lường Văn N và Quàng Văn M đều là người nghiện ma túy nên N đã rủ M dùng toàn bộ số tiền vừa bốc vác được để đi mua ma túy sử dụng, M đồng ý. Sau đó N và M cùng nhau đi bộ về, khi đi đến lối rẽ đường đi lên bản C, xã Quài N, N bảo M đứng ở đây chờ còn N một mình cầm tiền đi vào khu vực nghĩa trang Minh Th, thuộc xã Quài N, huyện Tuần G để tìm mua ma túy. Khi đi vào trong nghĩa trang, N gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không rõ tên, địa chỉ trông giống người nghiện chất ma túy. Qua trao đổi, N đã mua được của người đàn ông đó 01 gói heroine được gói bằng túi nilon màu hồng với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, N cầm gói Heroine trong lòng bàn tay phải và đi bộ về chỗ M đang đứng đợi. Khi gặp M, N nói với M là mua được Heroine rồi và rủ M về nhà N để cùng sử dụng ma túy. Sau đó cả hai đi bộ về nhà. Đến 10 giờ 50 phút ngày 12/9/2023, khi Lường Văn N và Quàng Văn M về đến khu vực bản C, xã Quài N, huyện Tuần G, tỉnh Điện B thì bị tổ công tác công an xã Quài N, huyện Tuần G phối hợp với tổ công tác Công an huyện Tuần G phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay phải của Lường Văn N đang cầm 01 gói Heroine được gói bằng túi nilon màu hồng

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng hồi 15 giờ 35 phút, ngày 12/9/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần G đã xác định: Chất màu trắng dạng cục, bột nghi Heroine thu giữ của Lò Văn N và Quàng Văn M có khối lượng 0,14 gam, gửi toàn bộ gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số: 1398/KL-KTHS ngày 18/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện B đã kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và dạng bột gửi giám định thu giữ của Lường Văn N và Quàng Văn M là ma túy, loại Heroine, hoàn lại đối tượng giám định 0,07 gam.

Tại phiên tòa, các bị cáo Lường Văn N và Quàng Văn M cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố: Do bản thân nghiện ma túy nên các bị cáo N và M đã có hành vi góp tiền mua Heroine về để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn thật thà khai báo.

Tại bản Cáo trạng số: 181/CT-VKSTG ngày 23/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G đã truy tố các bị cáo Lường Văn N và Quàng Văn M tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với với các bị cáo Lường Văn N và Quàng Văn M:

Xử phạt bị cáo Lường Văn N từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Quàng Văn M từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 01 mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,07 gam Heroine.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không bào chữa cho hành vi của mình, nhất trí với nội dung Cáo trạng và bản luận tội, không có quan điểm tranh luận.

Lời nói sau cùng các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi của các bị cáo bị truy tố: Hồi 10 giờ 50 phút, ngày 12/9/2023, tại khu vực bản C, xã Quài N, huyện Tuần G, tỉnh Điện B, các bị cáo Lường Văn N và Quàng Văn M đã thực hiện hành vi cất giấu trái phép 0,14 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng.

Hành vi của các bị cáo được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-03); biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng (BL 62, 63); kết luận giám định (BL66); các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản tự khai của các bị cáo, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay. Hành vi phạm tội của các bị cáo Lường Văn N và Quàng Văn M đã hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo Lường Văn N và Quàng Văn M đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Với tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe con người và mối nguy hại của nó đối với gia đình và xã hội. Nhà nước và toàn thể nhân dân đang có những chính sách, biện pháp phòng chống ngăn chặn nhằm đẩy lùi tệ nạn và những tội phạm về ma túy thì bị cáo lại tiếp tay cho tội phạm ma túy phát triển, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Từ những phân tích trên, HĐXX khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo cho thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo N rủ bị cáo M góp số tiền vừa được trả công chung để mua ma túy về để cùng sử dụng, khối lượng ma túy bị thu giữ của các bị cáo là 0,14 gam Heroine nên hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù, hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo Lường Văn N và Quàng Văn M sinh ra và lớn lên tại huyện Tuần G, tỉnh Điện B. Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự không có tình tiết tăng nặng nào nhưng đều là các đối tượng sử dụng ma túy. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

HĐXX xem xét hành vi phạm tội của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo để có mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhưng nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ nên cần được chấp nhận.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ của các bị cáo N và M là do bị cáo N mua của một người đàn ông không biết tên địa chỉ tại bản Minh Th, xã Quài N, huyện Tuần G vào ngày 12/9/2023, cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ được, HĐXX không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Song xét thấy hoàn cảnh gia đình các bị cáo chỉ làm nông nghiệp, đều là người nghiện ma túy, gia đình các bị cáo đều là hộ nghèo nên không có khả năng thi hành, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo, là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên cần được tịch thu tiêu hủy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 01 mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,07 gam Heroine.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, là hộ nghèo thuộc diện được miễn án phí, có đơn xin miễn án phí, Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lƣờng Văn N và Quàng Văn M;

Căn cứ khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

1. Về tội danh: Các bị cáo Lường Văn N và Quàng Văn M đều phạm tội: “Tàng

trữ trái phép chất ma túy”

2. Xử phạt: Bị cáo Lường Văn N: 01 (Một) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Quàng Văn M: 01 (Một) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù của các bị cáo tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 12/9/2023.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 01 mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,07 gam Heroine.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng đã được Công an huyện Tuần G bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuần G hồi 15 giờ 45 phút, ngày 24 tháng 11 năm 2023)

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 11/12/2023./.

Cỡ chữ