vanban.org

Bản án 29/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 14/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lường Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt: Lường Văn N 01 N06 tháng tù (một Nsáu tháng). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ban an HS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 29/2023/HS-ST
Ngày: 14-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thành Vân.

2. Ông Lò Văn Thôn.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 N2023, tại Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 29/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 10 N2023, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HS ngày 31/10/2023, đối với bị cáo:

Lường Văn N, tên gọi khác: Không, sinh N1976; nơi cư trú: Bản P, xã B, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ giáo d c phổ thông: 0/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức v , đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Lường Văn S và con bà: Lường Thị Đ (đều đã chết); vợ: Lường Thị D, có 03 người con, con lớn sinh nhất N1998, con nhỏ nhất sinh N2015; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/9/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hồi 06 giờ 00 phút ngày 11/9/2023, Tổ công tác Công an xã Bó Sinh, Sông Mã thực hiện xác minh phiếu tố giác về tội phạm ma tuý, tổ công tác đến nhà Lường Văn N, sinh N1976 trú tại bản Pá Ma, Bó Sinh, Sông Mã để test thử ma tuý, quá trình làm việc tổ công tác yêu cầu Ngiao nộp những đồ vật tài liệu có liên quan đến ma tuý, Nđã tự lấy từ trong túi quần đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột liên kết màu trắng (Nkhai nhận là Heroine), tổ công tác lập biên bản quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 12/9/2023 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã tiến hành m niêm phong cân tịnh xác định khối lượng vật chứng nghi là ma túy, kết quả: Chất bột liên kết màu trắng có khối lượng 0,15 gam, trích toàn bộ 0,15 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu N.

Kết luận giám định số 2192 ngày 15/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

- Mẫu ký hiệu N gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ cung N2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,15 gam.

- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,15 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung N2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Khoảng 16 giờ 30’ ngày 10/9/2023, Lường Văn N mang theo số tiền 100.000 đồng (là tiền do lao động tiết kiệm mà có) đi bộ từ nhà bản P, xã B, Sông Mã đến bản H, xã C, Thuận Châu, Sơn La để tìm mua ma tuý sử d ng, khi đến địa phận bản H, N gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang chăn bò ven đường, Nđến gần hỏi mua Heroine, người đàn ông bảo có nên Nlấy 100.000 đồng ra đưa cho người này, người đàn ông nhận tiền rồi lấy từ trong người ra đưa cho N01 gói nilon màu trắng bên trong chứa Heroine, Nnhận gói ma tuý cất giấu vào túi quần đang mặc rồi đi về, đến nhà Ntrích một ít Heroine ra sử d ng bằng hình thức hít qua đường hô hấp vào cơ thể, số Heroine còn lại Ncất giấu vào trong túi quần đang mặc, đến khoảng 06 giờ 00 phút ngày 11/9/2023 khi Nđang nhà thì tổ công tác Công an xã B đến test thử ma tuý và yêu cầu Ngiao nộp những đồ vật, chất cấm, Nđã tự lấy từ trong túi quần đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột liên kết màu trắng, tổ công tác lập biên bản quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.

Cáo trạng số: 202/CT-VKSSM ngày 23 tháng 10 N2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Lường Văn Nvề tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

- Bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử là không oan sai.

- Kiểm sát viên sau khi trình bày lời luận tội, v n giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo từ 01 N04 tháng đến 01 N10 tháng tù. Bị cáo không có tài sản nên không áp d ng hình phạt bổ sung (là phạt tiền); bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải chịu án phí; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng: Cơ quan điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định tội danh:

- Với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ có đủ căn cứ chứng minh: Lường Văn N là người sử d ng trái phép chất ma túy từ N2021. Ngày 10/9/2023 N đã tìm mua được 01 gói ma tuý của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết khu vực bản H, xã C, huyện Thuận Châu, Sơn La, sau đó Nđã trích ra một ít sử d ng, số ma tuý còn lại cất giấu trong túi quần đang mặc. Đến sáng ngày 11/9/2023, tổ công tác Công an xã Bó Sinh đến nhà Nđể test thử ma tuý, khi được yêu cầu Nđã lấy số ma tuý còn lại giao nộp cho tổ công tác có khối lượng 0,15 gam, theo kết luận giám định là ma tuý, thuộc loại Heroine. M c đích Tàng trữ để sử d ng cá nhân.

- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và lời khai của người chứng kiến; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s kết luận: Bị cáo Lường Văn Nphạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, kh i tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ là (người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng v n cố tình thực hiện. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo d c bị cáo và để phòng ngừa chung, đồng thời có thời gian cho bị cáo cai bỏ ma tuý.

Về vấn đề khác liên quan trong v án: Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực bản H, xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ c thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ s để điều tra, m rộng v án là có căn cứ, cần chấp nhận.

Vật chứng của v án còn lại: 01 mảnh Nilon màu trắng và các đồ vật liên quan là vật không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Về hình phạt bổ sung và án phí: Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp d ng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và được miễn án phí.

Về quan điểm của Kiểm sát viên như: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lường Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Lường Văn N 01 N06 tháng tù (một Nsáu tháng). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2023.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ các đồ vật: 01 mảnh Nilon màu trắng và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m ; được đựng trong 01 (một) phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành, đã niêm phong kín.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 193 ngày 23/10/2023 của Viện kiểm sát huyện Sông Mã và biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2023 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố t ng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 14/11/2023.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ