- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2023/HS - ST Ngày: 08 - 6 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Thịnh và bà Đỗ Thị Thanh Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Trưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2023/TLST - HS ngày 18 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXXST - HS, ngày 26 tháng 5 năm 2023 đối với:
Bị cáo Dương Văn T, sinh năm 1983 tại Thành phố Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn X, xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn V và bà Hoàng Thị P; vợ là Phan Thị D và 02 con (lớn 17 tuổi, nhỏ 14 tuổi); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/3/2023 đến nay tại Trại giam số 02 Công an Thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 18/3/2023, Dương Văn T đi từ nhà đến khu vực thị trấn M, huyện P, Thành phố Hà Nội tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày T đến đoạn đường H thuộc tiểu khu G, thị trấn M, huyện P mua của một người nam giới không quen biết 300.000 đồng ma tuý thì được người nam giới này bán cho 01 gói nhỏ ma tuý đựng trong 01 vỏ bao diêm. Sau khi mua được ma tuý, T vừa ra về một đoạn thì bị tổ công tác Công an thị trấn M, huyện P kiểm tra hành chính, T đã tự nguyện giao nộp gói ma túy đang cầm ở tay trái.
Tổ công tác Công an thị trấn M đã lập biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng bàn giao cho Công an huyện P gửi đi giám định theo quy định pháp luật.
Tại Bản kết luận giám định số 1759/KL-KTHS ngày 27/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội đã kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,271gam”.
Tại cáo trạng số 30/CT - VKS ngày 16/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo Dương Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P giữ nguyên quan điểm về tội danh, điều luật áp dụng theo nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 18/3/2023; đề nghị tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Tranh luận tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên... trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dụng vụ án:
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với nội dung kết luận của cơ quan điều tra, Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ như: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, Sơ đồ hiện trường, Biên bản niêm phong vật chứng, Kết luận giám định... có đủ căn cứ để khẳng định: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 18/3/2023, tại đoạn đường H thuộc tiểu khu G, thị trấn M, huyện P, Thành phố Hà Nội, tổ công tác Công an thị trấn M, huyện P bắt quả tang Dương Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,271 gam ma tuý loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Với hành vi nêu trên, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo Dương Văn T ra trước Tòa để xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng pháp luật. Tội danh và hình phạt quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an địa phương và là nguyên nhân dẫn đến các vi phạm pháp luật khác như trộm cắp, cướp giật... khiến dư luận bất bình, lên án, đòi hỏi phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự với một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo giáo dục bị cáo nhận thức rõ tội lỗi của mình mà tu tỉnh về sau đồng thời cũng là để làm gương cho người khác.
Khi quyết định hình phạt, đã cân nhắc đến việc bị cáo quá trình tố tụng thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải là tình tiết quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà giảm nhẹ một phần hình phạt để chứng tỏ sự khoan hồng của Pháp luật.
Do hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, động cơ mục đích phạm tội không nhằm trục lợi nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người nam giới theo T khai đã bán ma túy cho T tại khu vực đường Hthuộc tiểu khu G, thị trấn M, huyện P, Thành phố Hà Nội. Do T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người nam giới này, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không làm rõ được nên chưa xét trong vụ án này.
Về vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,271 gam ma tuý loại Methamphetamine là vật cấm tàng trữ, lưu hành và 01 vỏ bao diêm là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại các điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Ngoài hình phạt, bị cáo còn phải chịu khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử:
Phạt bị cáo Dương Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/3/2023. (Có Quyết định tạm giam kèm theo).
3. Áp dụng các điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
Tịch thu để tiêu huỷ:
- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước có hình dấu vuông, bên trong có ghi Công an Thành phố Hà Nội, đơn vị Công an huyện P, tên đối tượng Dương Văn T, ngày niêm phong 19/3/2023; mặt sau phong bì có chữ ký của đối tượng và giám định viên; bên trong phong bì có tinh thể màu trắng bên trong 01 gói ni lông là ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng 0,271 gam theo kết luận giám định số 1759/KL-KTHS ngày 27/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội là vật cấm tàng trữ, lưu hành.
- 01 (một) vỏ bao diêm bên trên có in chữ “Diêm an toàn thống nhất”.
Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, Thành phố Hà Nội.
4. Áp dụng Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy ®Þnh vÒ mức thu, miÔn, gi¶m, thu nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n:
Buộc bị cáo Dương Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Trung tâm Lý lịch tư pháp TW - Bộ Tư pháp; - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND huyện P; - Công an huyện P; - Chi cục THADS huyện P; - UBND xã nơi bị cáo cư trú. - Bị cáo; - Lưu HS, VT; HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Anh Phương THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |