vanban.org

Bản án 29/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 09/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Thùng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Thùng Văn T: 02 (Hai) năm, 08 (Tám) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/8/2022 đến ngày 17/8/2022 (09 ngày), còn phải chấp hành: 02 (Hai) năm, 07 (Bảy) tháng, 21 (Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thùng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Thùng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG THỔ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HS-ST
Ngày 09 tháng 01 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lý Minh Quý;

2. Ông Lò Văn Chiên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2023, tại bản Nà, xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2022/TLST-HS, ngày 22 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2022/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Thùng Văn T, sinh năm 1966, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản V, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Thùng Văn L, đã chết, mẹ đẻ: Đèo Thị N, đã chết; vợ: Vàng Thị N, sinh năm 1968; bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân: Tại Bản án số: 12/2005/HSST, ngày 26/01/2005, của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, bị cáo bị xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999; tại Bản án số: 19/2014/HSST, ngày 27/02/2014, của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, bị cáo bị xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo đã chấp hành xong các bản án và được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/8/2022 đến ngày 17/8/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Ngày 30/11/2022, bị cáo bị bắt do thực hiện hành vi phạm tội quả tang và bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu từ ngày 30/11/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ, ngày 08/8/2022, Thùng Văn T mang theo số tiền 500.000 đồng đi bộ từ nhà ra chợ Mường So và thuê một người xe ôm không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể, chở T lên xã Bản Lang, mục đích để tìm mua ma túy sử dụng, T không nói cho người lái xe ôm biết mục đích của mình. Khi đi đến khu vực xã Bản Lang thì T bảo người đàn ông lái xe ôm đứng đợi. T một mình đi bộ ra phía sau trụ sở Ủy ban nhân dân xã Bản Lang thì gặp một người đàn ông dân tộc Dao, khoảng 30 tuổi, không biết nhân thân, lai lịch cụ thể, trông giống người nghiện. T hỏi và mua được của người này số chất ma túy gồm: 01 gói nilon màu xanh và 01 túi nilon màu trắng, bên trong gói nilon màu xanh có 05 viên màu hồng, 01 viên màu xanh; bên trong túi nilon màu trắng có 09 gói nhỏ gói chất bột màu nâu xám, được gói bên ngoài mỗi gói bằng nilon màu xanh. T mua hết số tiền 400.000 đồng. Mua được ma túy, T cất vào túi quần đang mặc rồi đi bộ ra chỗ người lái xe ôm để đi về, còn người đã bán ma túy cho T đi đâu, làm gì, T không biết.

Trên đường về, T bảo người lái xe ôm dừng lại để đi vệ sinh, T đi bộ lên nương chuối rồi mở số ma túy ra xem và vứt 01 túi ni lon màu xanh gói bên ngoài đi, số còn lại T gói lại như cũ và cất vào túi quần đang mặc, sau đó, T quay lại chỗ người xe ôm để đi về.

Đến khoảng 21 giờ, ngày 08/8/2022, tại khu vực bản Vàng Pheo, xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, khi Thùng Văn T một mình mang theo số ma túy mua được từ nhà đi tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Mường So phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng, gồm: 09 gói nhỏ chất bột màu nâu xám; 05 viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh. Thùng Văn T khai nhận số chất bột màu nâu xám và 06 viên nén trên là ma túy do T mua về để sử dụng cho bản thân.

Tại Kết luận giám định số: 07 ngày, 08/8/2022, của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: 09 gói chất bột màu nâu xám thu giữ của Thùng Văn T có tổng khối lượng là 1,12 gam; Tổng 05 viên nén màu hồng có dập chữ WY và 01 viên nén màu xanh có dập chữ WY thu giữ của Thùng Văn T có khối lượng là 0,54 gam.

Kết luận giám định số: 708/GĐ-KTHS, ngày 13/8/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu, kết luận: 09 mẫu chất bột màu nâu xám thu giữ của Thùng Văn T gửi giám định là ma túy, loại Heroine. 06 viên nén (gồm 05 viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh) thu giữ của Thùng Văn T gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số: 104/CT-VKSPT, ngày 22 tháng 11 năm 2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Thùng Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Thùng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thùng Văn T từ 02 (Hai) năm, 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm, 09 (Chín) tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ. Thời hạn tù tính từ ngày vào chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,64 gam chất bột màu nâu xám (Heroine) còn lại sau giám định; 01 cóng làm bằng chai nước ngọt; các mảnh ni lon, các vỏ niêm phong cũ. Đối với 0,48 gam Heroine trích trong tổng số Heroine thu giữ của bị cáo và 0,54 gam Methamphetamine đã được gửi đi giám định không hoàn lại nên không đề cập xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng. Bị cáo không có tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội mà bị cáo Thùng Văn T đã thực hiện:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng, các kết luận giám định, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định:

Hồi 21 giờ 30 phút, ngày 08/8/2022, tại khu vực bản Vàng Pheo, xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an xã Mường So đã phát hiện, bắt quả tang Thùng Văn T đang tàng trữ trái phép 09 gói nhỏ Heroine, có tổng khối lượng là 1,12 gam và 05 viên nén màu hồng, 01 viên nén màu xanh là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,54 gam. Mục đích của T tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân.

Căn cứ Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP, ngày 02/02/2018, của Chính phủ về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng chất ma túy mà Thùng Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự là: 1,12 gam + 0,54 gam = 1,66 gam.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ Heroine, Methamphetamine đều là ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Những tình tiết liên quan đến vụ án:

Quá trình điều tra, do Thùng Văn T không biết nhân thân, lai lịch của người đàn ông đã bán ma túy cho T nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Đối với người đàn ông lái xe ôm đưa T đi mua ma túy, do T không nói cho người này biết mục đích thuê xe ôm để đi mua ma túy và T cũng không biết nhân thân, lai lịch của người này nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về nhân thân, năm 2005 và năm 2014, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử về hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành xong các bản án và đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cảnh tỉnh cho bản thân, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật mà lại tiếp tục phạm tội. Lần phạm tội này, trong thời gian bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo lại tiếp tục phạm tội, bị bắt quả tang.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Số Heroine thu giữ của bị cáo đã trích 0,48 gam và toàn bộ số Methamphetamine thu của bị cáo đã gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định nên Hội đồng xét xử không xem xét. Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,64 gam Heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; 01 cóng làm bằng chai nước ngọt; các mảnh ni lon, các vỏ niêm phong cũ, là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên bố:

1. Bị cáo Thùng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Thùng Văn T: 02 (Hai) năm, 08 (Tám) tháng tù.

Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/8/2022 đến ngày 17/8/2022 (09 ngày), còn phải chấp hành: 02 (Hai) năm, 07 (Bảy) tháng, 21 (Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2022.

2. Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 0,64 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 cóng làm bằng chai nước ngọt; các mảnh ni lon, các vỏ niêm phong cũ.

(Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).

3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ