- Tranh chấp gì? án hình sự — "A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Ư phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng - Tịch thu toàn bộ; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2023/HS-ST Ngày: 14 – 4 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trác
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Thủy
2. Ông Nguyễn Thế Phượng
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Doãn Thị Thu Hiền – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên toà: Ông Phạm Đức Hoành - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 4 năm 2023; Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 14/2023/TLST-HS ngày 28/02/2023; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXXST-HS ngày 03/4/2023 đối với bị cáo:
Đỗ Văn Ư, sinh ngày 19/10/1994 tại huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Tổ dân phố Châu, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Đỗ Văn T, sinh năm 1970 và bà Đoàn Thị H, sinh năm 1979. Vợ: Bùi Thị Ánh M, sinh năm 1994, có 01 con sinh năm 2016. Nhân thân: Bản án số 73/2011/HSST ngày 24/11/2011, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/12/2022, đến ngày 19/12/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình, trích xuất có mặt.
* Người làm chứng:
+ Ông Hoàng Văn L, sinh năm 1962
Nơi cư trú: Thôn Xuân La, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
+ Anh Trần Minh T, sinh năm 1983
Nơi cư trú: Thôn Trắc Dương, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
(Ông Lựa, anh Tuân vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 20 phút, ngày 16/12/2022, tại khu vực thôn Hà Nguyên, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, Công an huyện Hưng Hà đã tiến hành kiểm tra đối với Đỗ Văn Ư; Ư đã tự giao nộp 01 gói giấy tráng kim màu trắng, mở ra bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, Ư khai đó là Hêrôin,, mục đích để sử dụng. Nguồn gốc Hêrôin, Ư khai mua của người đàn ông không biết tên, địa chỉ tại khu vực cầu Hà Nguyên, thôn Hà Nguyên, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà với giá 200.000 đồng. Công an huyện Hưng Hà đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Văn Ư, cơ quan điều tra không quản lý, thu giữ đồ vật gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Bản kết luận giám định số 472/KL-KTHS(MT) ngày 19/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định thu giữ của Đỗ Văn Ư là ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng 0,1192 gam.
Bản Cáo trạng số 21/CT-VKSHH, ngày 27/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà đã truy tố Đỗ Văn Ư về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Ư khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như tại bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Ư phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/12/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, quyết định án phí hình sự theo luật định
Bị cáo Ư không có tranh luận
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 16/12/2022, bị cáo mua 01 gói ma túy, loại Hêrôin của người đàn ông, không biết tên, địa chỉ ở khu vực cầu Hà Nguyên, thôn Hà Nguyên, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng, đến khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày thì bị phát hiện bắt quả tang, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng. Ngoài ra còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản quản lý và niêm phong đồ vật, tài liệu; Bản kết luận giám định số 472/KL-KTHS(MT) ngày 19/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Như vậy có đầy đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 BLHS: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
……………
c) Hêrôin, Cocain, Methamphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…………………….
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”
Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả vụ án cùng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo đã tàng trữ trái phép 0,1192 gam Hêrôin nên đã phạm vào tính tiết quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Mặt khác bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội Trộm cắp tài sản; do vậy cần phải có hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo bị cáo nói riêng cũng như phòng chống tội phạm nói chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng xét bị cáo thành khẩn khai báo; do đó cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Bị cáo mục đích tàng trữ trái phép ma túy là để sử dụng cho bản thân, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của người đàn ông, không biết tên, địa chỉ ở khu vực thôn Hà Nguyên, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà đã tiến hành điều tra, xác minh, không xác định được người bán ma túy cho bị cáo nên không có căn cứ xử lý người bán ma túy cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu toàn bộ số ma túy đựng trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số: 472/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình;
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Bị cáo có quyền kháng cáo
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Ư phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Ư: 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/12/2022.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu toàn bộ số ma túy đựng trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số: 472KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình;
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Đỗ Văn Ư phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - VKSND huyện Hưng Hà; - Công an huyện Hưng Hà; - THADS huyện Hưng Hà; - Bị cáo – Trại tạm giam; - Sở Tư pháp; - Lưu hồ sơ; VP; Điều 50 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Đắc Quyết: 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/9/2022. hình sự: sau giám định số: 348/KL-KTHS (MT) của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình; 01 xi lanh để tiêu hủy. điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Mai Đắc Quyết phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Quang Trác - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; 2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng - Tịch thu toàn bộ số ma túy đựng trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật 3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quang Trác |