vanban.org

Bản án 29/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 06/02/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Minh H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 96/2022/HS-ST ngày 17-8-2022 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Phạm Minh H (tên gọi khác: Tí Cá) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSPT Phạm Minh H - Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Minh H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 96/2022/HS-ST ngày 17-8-2022 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HS-PT
Ngày: 06 - 02 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông;

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Thế Phương;

Ông Nguyễn Xuân Quang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 315/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Phạm Minh H; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 96/2022/HS-ST ngày 17-8-2022 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

Bị cáo có kháng cáo: Phạm Minh H (Tên gọi khác: T), sinh năm 1989 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: ấp C, xã S, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Phạm Văn H, sinh năm 1963 và bà Hoàng Thị Tuyết H, sinh năm 1963; có vợ là Bùi Thị Ngọc L, sinh năm 1991 (đã chết); tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 16/12/2020, bị Tòa án nhân dân huyện X xử phạt Phạm Minh H 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2020, đã chấp hành xong ngày 27/3/2021.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai; có mặt tại phiên tòa.

(Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác, bị hại nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Vào khoảng 03 giờ ngày 28/6/2020 tại ấp 3, xã S, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, Hoàng Minh H có hành vi dùng dao khống chế, uy hiếp tinh thần chị Phạm Thị H chiếm đoạt số tiền 1.800.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG J3 trị giá 1.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản thiệt hại trị giá 2.800.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Hoàng Minh H đã cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 168 Bộ luật hình sự.

Sau khi lấy tài sản bị cáo H đưa cho Đinh Ngọc Lê Hoàng A 01 điện thoại hiệu SAMSUNG J3, mặc dù biết tài sản trên do H phạm tội mà có nhưng Hoàng A vẫn đồng ý lấy. Do đó, hành vi của bị cáo Hoàng A đã phạm vào tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”, thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 323 Bộ luật hình sự

Sau khi lấy tài sản bị cáo H đưa cho Phạm Minh H số tiền 100.000 đồng, mặc dù biết tài sản trên do H phạm tội mà có nhưng bị cáo H vẫn đồng ý lấy và sử dụng. Do đó, hành vi của bị cáo Phạm Minh H đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, khi Đinh Ngọc Lê Hoàng A đưa 01 điện thoại hiệu SAMSUNG J3 cho H nhờ H đi bẻ khóa mặc dù biết điện thoại do H phạm tội mà có nhưng bị cáo H vẫn đồng ý mang đi bẻ khóa nên hành vi của bị cáo Phạm Minh H đã phạm vào tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự:

- Sau khi sự việc xảy ra, gia đình bị cáo H đã tự nguyện bồi thường cho chị Phạm Thị H số tiền 1.800.000 đồng, chị H đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường gì thêm và đã làm đơn xin bãi nại cho Hoàng Minh H nên không xem xét.

3. Về biện pháp tư pháp:

- 01 con dao Thái lan cán nhựa màu vàng dài 21 cm là của chị Phạm Thị H, xét không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 đôi dép nhựa tổ ong màu vàng dài (26x9 cm) của Hoàng Minh H, xét không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG J3 màu vàng, Cơ quan điều tra đã thu hồi và trao trả cho chị Phạm Thị H là đúng quy định.

4. Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 96/2022/HS-ST ngày 17-8-2022 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 323; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Minh H (tên gọi khác: Tí Cá) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Phạm Minh H (tên gọi khác: Tí Cá) 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tại phiên tòa (ngày 17/8/2022).

Tuyên bố bị cáo Phạm Minh H (tên gọi khác: Tí Cá) phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” .

Xử phạt bị cáo Phạm Minh H (tên gọi khác: Tí Cá) 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tại phiên tòa (ngày 17/8/2022).

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tại phiên tòa (ngày 17/8/2022).

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Ra lệnh bắt tạm giam bị cáo Phạm Minh H ngay tại phiên tòa.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

5. Kháng cáo:

- Ngày 30/8/2022, bị cáo Phạm Minh H kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

6. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Minh H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm mô tả. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về các tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

Về kháng cáo đối với hình phạt:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cấp sơ thẩm: Bị cáo có trình độ học vấn thấp hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, là lao động chính trong gia đình, bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo cung cấp các giấy tờ thể hiện gia đình bị cáo có người có công với cách mạng. Xét tính chất phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo gây ra nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Phạm Minh H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1, 2 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Minh H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 96/2022/HS-ST ngày 17-8-2022 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

1. Về tội danh và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Phạm Minh H (tên gọi khác: Tí Cá) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Phạm Minh H (tên gọi khác: Tí Cá) 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2022.

Tuyên bố bị cáo Phạm Minh H (tên gọi khác: Tí Cá) phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” .

Xử phạt bị cáo Phạm Minh H (tên gọi khác: Tí Cá) 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2022.

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2022.

2. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Phạm Minh H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Quyết định khác của bản án sơ thẩm về án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ