- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Kim T xin ly hôn nuôi con Nguyễn Văn U"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trương Thị Kim T được ly hôn anh Nguyễn Văn U.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2023/HNST Ngày: 19-4-2023 Vv: “Xin ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN-TỈNH VĨNH LONG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trương Văn Ánh
Ông Lê Minh Thư
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Hồ
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân không tham gia phiên tòa
Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 324/2022/TLST-HN ngày 28 tháng 12 năm 2022 về việc “Xin ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXX-ST ngày 13 tháng 3 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 19/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31/3/2023 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Trương Thị Kim T, sinh năm 1977 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ 6, ấp L, xã T1, huyện B, tỉnh Vĩnh Long
2.Bị đơn: Anh Nguyễn Văn U, sinh năm 1977 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 6, ấp L, xã T1, huyện B, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/11/2022 và các lời trình bày tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trương Thị Kim T trình bày:
Vào năm 1997 chị và anh Nguyễn Văn U quen biết nhau, sau thời gian tìm hiểu anh chị tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tại địa phương và được gia đình 02 bên đồng ý.
Nữ trang cưới gồm: 01 đôi bông tai 01 chỉ vàng 24K, sợi dây chuyển 1,5 chỉ vàng 18K. Hiện nay vợ chồng bán tiêu xài hết. Anh chị đến UBND xã Thành Trung, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận vào ngày 18/9/2009.
Sau khi cưới vợ chồng cùng sống ấp L, xã T1, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian đầu vợ chồng chị sống rất hạnh phúc và sinh được hai đứa con tên Nguyễn Trung T sinh ngày 03/8/1998; Nguyễn Trương Q sinh ngày 04/9/2012 hiện hai cháu đang sống chung với chị.
Về tài sản chung, quá trình chung sống vợ chồng không tạo ra tài sản chung.
Về nợ chung, vợ chồng không nợ ai cũng không ai nợ hai vợ chồng.
Từ khi về sống cùng chồng chị lúc đầu rất hạnh phúc, nhưng khoảng đầu năm 2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do chồng chị thường xuyên rượu chè và ăn chơi, không quan tâm đến gia đình, chị có khuyên nhưng chồng chị vẫn không nghe, từ đó anh chị đã ly thân cho đến nay. Chị không còn tình cảm với chồng chị, bất đồng trong quan điểm sống, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể hàn gắn lại tình cảm được nên chị quyết định xin ly hôn với chồng chị.
Chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Tân giải quyết những vấn đề sau:
Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu cho ly hôn với anh Nguyễn Văn U
Về con chung: Có 02 người con chung tên Nguyễn Trung T sinh ngày 03/8/1998 đã trưởng thành; Nguyễn Trương Q sinh ngày 04/9/2012 chị yêu cầu được nuôi cháu T, yêu cầu anh U cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đ/tháng cho đến khi cháu T tròn 18 tuổi.
Về quan hệ tài sản: không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho anh Nguyễn Văn U nhưng hết thời gian thông báo đương sự không cung cấp văn bản trình bày ý kiến. Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên hòa giải cho bị đơn, nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do chính đáng. Như vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được do bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vẫn cố tình vắng mặt.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Văn U với lý do chị và anh U bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường hay cự cãi, anh U không quan tâm chăm sóc vợ con, anh chị ly thân khoảng 02 năm nay, không ai quan tâm tới ai.
Về con chung: Nguyễn Trung T sinh ngày 03/8/1998 đã trưởng thành; Nguyễn Trương Q sinh ngày 04/9/2012 chị yêu cầu được nuôi cháu T, không yêu cầu anh U cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản: không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn vắng mặt không lý do dù đã triệu tập đến lần thứ hai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Kim T và anh Nguyễn Văn U là vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh là do cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.
Xét cuộc sống gia đình giữa chị Trương Thị Kim T và anh Nguyễn Văn U không hạnh phúc, anh chị không dung hòa được tình cảm vợ chồng, không hàn gắn được hạnh phúc gia đình. Chị Trương Thị Kim T không còn mong muốn cùng anh Nguyễn Văn U xây dựng một gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Với những mâu thuẫn vợ chồng như chị đã trình bày tại phiên tòa nếu kéo dài thêm cuộc sống hôn nhân sẽ càng thêm trầm trọng thêm sự ức chế hai bên, mục đích hôn nhân không đạt được và cuộc hôn nhân này không thể kéo dài.
Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Kim T, cho chị Trương Thị Kim T được ly hôn với anh Nguyễn Văn U
Về con chung: Cháu Nguyễn Trung T sinh ngày 03/8/1998 đã trưởng thành
Cháu Nguyễn Trương Q sinh ngày 04/9/2012, hiện đang sống cùng chị T và do chị T nuôi dưỡng. Cháu T cũng có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Xét thấy hiện cháu T có cuộc sống ổn định nên việc chị T yêu cầu được nuôi cháu T là có căn cứ nên được chấp nhận.
Chị T không yêu cầu anh U cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của chị T nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về quan hệ tài sản: không có, không tranh chấp nên hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Trương Thị Kim T phải chịu theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự ; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trương Thị Kim T được ly hôn anh Nguyễn Văn U.
Về con chung: Cháu Nguyễn Trung T sinh ngày 03/8/1998 đã trưởng thành
Giao cháu Nguyễn Trương Quốc sinh ngày 04/9/2012 cho chị Trương Thị Kim T tiếp tục nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn U chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về quan hệ tài sản: không tranh chấp nên không đặt ra giải quyết
Về án phí:
Buộc chị Trương Thị Kim T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0013993 ngày 28/12/2022 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, nên chị Trương Thị Kim T không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Thƣ
Trƣơng Văn Ánh
Nguyễn Ánh Dƣơng Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ -TAND tỉnh Vĩnh Long; -VKSND huyện Bình Tân; -Chi cục THADS huyện Bình Tân; -Các đương sự: -Lưu VP, HS
Nguyễn Ánh Dƣơng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Thƣ
Trần Ngọc Đức
Nguyễn Ánh Dƣơng
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Vĩnh Long; -VKSND huyện Bình Tân; -Chi cục THADS huyện Bình Tân; -Các đương sự: -Lưu VP, HS THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TÒA Trừ Trung Tín Trƣơng Văn Ánh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Ánh Dƣơng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN Nguyễn Ánh Dƣơng |