- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trương Thị Thanh N tranh chấp "Xin ly hôn" với ông Chen Z D"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Thanh N.
- Căn cứ chính? Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST Ngày: 05-06-2023 V/v tranh chấp: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Xuân Long;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Luân;
Bà Phan Thị Trúc Mơ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Liêm- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Bảo - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 09 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2023/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 về việc tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/5/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Thanh N, sinh năm: 1997 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang;
- Bị đơn: Ông Chen Z D, sinh năm: 1982 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: 2, đường V, khóm A, phường S, thành phố Đ, huyện M, Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 20/12/2022, bản tự khai ngày 20/12/2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Thị Thanh N trình bày:
Được sự mai mối từ người thân, bà và ông Chen Z D quen biết tìm hiểu qua mạng Internet trong thời gian khoảng 02 tháng thì tiến đến hôn nhân. Ông bà có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Việt Nam theo giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 03/6/2019 tại Ủy ban nhân dân huyện G.
Sau khi đám cưới xong thì ông Chen Z D trở về Đài Loan sinh sống và làm việc, đến ngày 23/9/2019 thì ông Chen Z D quay về Việt Nam để tiến hành phỏng vấn nhằm rước bà sang Đài Loan sinh sống. Tuy nhiên, do thời gian tìm hiểu quá ngắn, ông bà chưa thật sự hiểu nhau. Vì vậy, khi ông bà phỏng vấn có rất nhiều vấn đề sai sót nên cuộc phỏng vấn không đạt, một tuần sau thì ông Chen Z D quay về Đài Loan từ đó cho đến nay.
Hiện nay, giữa ông bà có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, chúng tôi rất ít liên hệ với nhau. Ngoài ra, do có sự khác biệt về văn hóa, phong tục, lối sống và ngôn ngữ cũng như khoảng cách về địa lý là nguyên nhân lớn khiến ông bà không thể gắn kết, hòa hợp với nhau được.
Nay, bà nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông Chen Z D không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, bà yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:
- Về hôn nhân: bà yêu cầu được ly hôn với ông Chen Z D.
- Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về tài sản chung và nợ chung: bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại Bản tự khai ngày 15/02/2023 và đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 15/02/2023, bị đơn ông Chen Z D trình bày:
- Về hôn nhân: ông Chen Z D yêu cầu được ly hôn với bà Trương Thị Thanh N.
- Về con chung: ông Chen Z D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: ông Chen Z D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tại phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- Về nội dung vụ án: Bà Trương Thị Thanh N yêu cầu được ly hôn với ông Chen Z D do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; ông Chen Z D cũng đồng ý ly hôn với bà Trương Thị Thanh N. Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn của bà Trương Thị Thanh N và ông Chen Z D; về con chung: Đương sự trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận các đương sự trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về án phí: bà Trương Thị Thanh N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp: bà Trương Thị Thanh N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Chen Z D nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Xin ly hôn” theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về thẩm quyền giải quyết: bà Trương Thị Thanh N có đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn với ông Chen Z D. Ông Chen Z D có quốc tịch Đài Loan và hiện đang cư trú tại Đài Loan. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm c khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Về tố tụng: bà Trương Thị Thanh N và ông Chen Z D vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Trương Thị Thanh N và ông Chen Z D theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Trương Thị Thanh N, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bà Trương Thị Thanh N và ông Chen Z D xác lập quan hệ hôn nhân năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 03/6/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian, ông và bà tiến hành làm thủ tục phỏng vấn nhưng kết quả phỏng vấn không đạt, nên ông Chen Z D trở về Đài Loan sinh sống và làm việc, ông Chen Z D và bà Trương Thị Thanh N mỗi người sống một nơi khoảng cách địa lý khiến ông và bà không thể gắn kết với nhau. Từ đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên không còn quan tâm lẫn nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc nên đã không còn liên lạc và sống ly thân từ khoảng năm 2019 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà Trương Thị Thanh N xin ly hôn với ông Chen Z D, ông Chen Z D cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà Trương Thị Thanh N.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Trương Thị Thanh N và ông Chen Z D đã phát sinh từ năm 2019, ông bà chỉ chung sống với nhau một thời gian thì đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do khoảng cách địa lý, bất đồng trong giao tiếp, ông bà nhiều lần hàn gắn đoàn tụ nhưng không thành nên đã ly thân nhau từ năm 2019 cho đến nay. Phía bà Trương Thị Thanh N xin ly hôn ông Chen Z D, ông Chen Z D có ý kiến cũng đồng ý ly hôn, nhận thấy tình cảm của ông bà đã thật sự tan vỡ, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ lại được. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận thuận tình ly hôn giữa bà Trương Thị Thanh N và ông Chen Z D là phù hợp theo Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Trương Thị Thanh N và ông Chen Z D thống nhất trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bà Trương Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273, khoản 1 và 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 56 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Thanh N.
1. Về quan hệ hôn nhân:
Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trương Thị Thanh N và ông Chen Z D.
2. Về con chung: Ghi nhận bà Trương Thị Thanh N và ông Chen Z D thống nhất trình bày không có; không đặt ra xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận bà Trương Thị Thanh N và ông Chen Z D thống nhất trình bày không có; không đặt ra xem xét.
4. Về án phí: Bà Trương Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà đã nộp theo biên lai số 0000468 ngày 15/02/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang, xem như đã nộp xong án phí sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bà Trương Thị Thanh N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Ông Chen Z D cư trú ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - CTHADS tỉnh Tiền Giang; - UBND huyện G tỉnh Tiền Giang; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Xuân Long |