vanban.org

Bản án 29/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” của bà Đinh Thị L đối với ông Lê Thanh H. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đinh Thị L được ly hôn ông Lê Thanh H (Giấy chứng nhận kết hôn số 37/2020 ngày 29/6/2020 của UBND xã Duy Hải, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam không còn hiệu lực). Về quan hệ con chung: Giao con Lê Thanh H, sinh ngày 24/4/2020 cho bà Đinh Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” của bà Đinh Thị L đối với ông Lê Thanh H. Xử:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNG SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08 - 9 - 2023
V/v:“Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------------------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Anh

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Sơn

Ông Nguyễn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn.TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thái Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 51/2023/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2023/QĐST - HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 51A/2023/QĐST-HPT ngày 22/8/2023 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị L, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn T, xã Duy H, huyện D, tỉnh Quảng N. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Thanh H, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ 16 (tổ 31 cũ), phường H, quận Ng, thành phố Đ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

ơ

* Trong đơn khởi kiện gửi đến Toà án và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn trình bày:

Tôi và ông Lê Thanh H kết hôn vào ngày 29/6/2020, hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Duy Hải, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, nên từ đó thường xuyên xảy ra xích mích, cãi vã, không tôn trọng nhau và cũng từ đó lạnh nhạt tình cảm với nhau. Năm 2021 vợ chồng đã sống ly thân nhau cho đến nay, không còn quan tâm nhau. Nay tôi xác định tình không còn yêu thương ông Hải nữa, tôi yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Lê Thanh Hải.

Về con chung: Tôi và ông Lê Thanh H có 01 con chung tên là Lê Thanh H, sinh ngày 24/4/2020. Ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông Hải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có

Về nợ chung: Không có

* Bị đơn ông Lê Thanh H trong suốt quá trình tố tụng đều vắng mặt nên không có ý kiến thể hiện hồ sơ.

* Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án gồm:

1. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thẩm tra viên, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng về cơ bản Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 BLTTDS. Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền thụ lý vụ án, thời hiệu khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS.

- Việc thu thập chứng cứ: Về cơ bản việc thu thập chứng cứ đảm bảo theo đúng Điều 95 BLTTDS.

- Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho VKS và người tham gia tố tụng theo đúng quy định tại Điều 170, 171, 177, 178, 203, 205, 210 BLTTDS.

- Về thời hạn chuẩn bị xét xử Tòa án thực hiện đảm bảo theo quy định tại Điều 203 BLTTDS.

* Việc tuân theo pháp luật của HĐXX, Thư ký tại phiên tòa:

Tại phiên Tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện nguyên tắc xét xử, thủ tục phiên tòa sơ thẩm theo đúng quy định tại chương II, chương XIV BLTTDS. Thư ký được phân công đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 51 BLTTDS.

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án:

Từ khi thụ lý cho đến thời điểm này, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS. Bị đơn không thực hiện đúng.

Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 83 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam; căn cứ Điều 35, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn, nuôi con chung của bà Đinh Thị Lự đối với ông Lê Thanh Hải.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đinh Thị Lđược ly hôn ông Lê Thanh H.

- Về con chung: Giao con Lê Thanh H, sinh ngày 24/4/2020 cho bà Đinh Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, ông Lê Thanh Hải không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Do ông Hvắng mặt nên không xác định được có hay không tài sản chung nên tách ra giải quyết khi các bên đương có yêu cầu.

Nguyên đơn phải chịu án phí theo qui định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết, tranh chấp ly hôn và nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Lê Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông.

Về nội dung vụ án :

Bà Đinh Thị L và ông Lê Thanh Hkết hôn vào ngày 29/6/2020, hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Duy Hải, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, nên từ đó thường xuyên xảy ra xích mích, cãi vã, không tôn trọng nhau và cũng từ đó lạnh nhạt tình cảm với nhau. Năm 2021 vợ chồng đã sống ly thân nhau cho đến nay, không còn quan tâm nhau. Nay bà L xác định tình cảm không còn yêu thương ông Hnữa, bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Thanh Hải.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà L thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thực sự đạt được khi cả vợ chồng cùng có niềm tin và tình yêu, sự thông cảm và chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống nhưng đến nay cả hai ông bà đã không còn giữ được điều này. Trong thời gian mâu thuẫn vợ chồng không tìm kiếm được tiếng nói chung, cũng như không có giải pháp để cùng nhau dung hòa mâu thuẫn cải thiện lại quan hệ vợ chồng đã chấm dứt từ lâu. Khi bà Lự nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn Tòa án, đã triệu tập nhiều lần để hòa giải nhưng ông Hải đều vắng mặt thể hiện ý thức ông không chấp hành pháp luật cũng như bỏ mặc việc níu kéo đối với chính cuộc hôn nhân của mình. Do đó thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã thật sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thấy có níu kéo cũng không đem lại kết quả gì nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lđối với ông Hlà phù hợp với điều 51 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà L và ông H có 01 con chung tên Lê Thanh H, sinh ngày 24/4/2020. Ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con Lê Thanh

Hưng cho đến khi con đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét yêu cầu xin được nuôi con của bà Lthì thấy cháu H còn nhỏ, cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của mẹ, từ trước đến nay cháu đều sống với bà Lcó cuộc sống sinh hoạt ổn định, thấy không nhất thiết phải thay đổi xáo trộn cuộc sống của cháu nên yêu cầu xin được nuôi con của bà L là phù hợp Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình nên HĐXX chấp nhận, bà Lkhông yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung bà L xác định không có, tuy nhiên tại phiên tòa do ông H vắng mặt nên không có cơ sở xác định vợ chồng có hay không tài sản chung nên HĐXX không đề cập xem xét, tách ra sau này các đương sự nếu có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ án khác.

Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000đ bà Đinh Thị L phải chịu khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0009700 ngày 20 tháng 6 năm 2023.

Xét đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56, 81 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227 BLTTDS.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” của bà Đinh Thị L đối với ông Lê Thanh H. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đinh Thị L được ly hôn ông Lê Thanh H (Giấy chứng nhận kết hôn số 37/2020 ngày 29/6/2020 của UBND xã Duy Hải, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam không còn hiệu lực).

2. Về quan hệ con chung: Giao con Lê Thanh H, sinh ngày 24/4/2020 cho bà Đinh Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, ông Lê Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Các bên vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích chung của con các bên có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Tách ra khi có yêu cầu thì giải quyết vụ án khác .

4. Về nợ chung: Tách ra khi có yêu cầu thì giải quyết vụ án khác .

5. Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000đ bà Đinh Thị L phải chịu khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0009700 ngày 20 tháng 6 năm 2023.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn vắng mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.

Cỡ chữ