vanban.org

Bản án 29/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Đào Văn Đ

Về việc nuôi con: Giao con chung Đào Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 25/3/201Y cho chị Nguyễn Thị Y trực tiếp nuôi; Giao con chung Đào Nguyễn Anh T1, sinh ngày 13/8/201X cho anh Đào Văn Đ trực tiếp nuôi đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Y_Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Đào Văn Đ
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST
Ngày 06-7-2023
V/v ly h«n, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Khang

Bà Nguyễn Thị Tư

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 331/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 413/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y; nơi cư trú: Số 107/33/112A đường N, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Đào Văn Đ; nơi cư trú: Số 107/33/112A đường N, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ dân sự xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y trình bày:

Chị và anh Đào Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, đám cưới tổ chức theo phong tục Việt Nam. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, quận N, thành phố Hải Phòng ngày 28/4/2010.

Sau khi kết hôn, anh chị sống hòa thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng xảy ra xô sát cãi nhau. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhiều nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng. Đến nay, anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau về mọi mặt. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc đề nghị Toà án giải quyết cho chị và anh Đ được ly hôn.

- Về con chung: Anh chị có hai con chung là Đào Nguyễn Anh T1, sinh ngày 13/8/201X và Đào Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 25/3/201Y. Ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi con Đào Nguyễn Thanh T2 và đề nghị Tòa án giao con Đào Nguyễn Anh T1 cho anh Đ nuôi đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Đào Văn Đ trình bày tại bản tự khai như sau:

Anh và chị Nguyễn Thị Y kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, đám cưới tổ chức theo phong tục Việt Nam. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường M, quận N, thành phố Hải Phòng ngày 28/4/2010.

Sau khi kết hôn anh chị sống hòa thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xảy ra to tiếng cãi nhau. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhiều nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng. Anh chị đã sống ly thân một thời gian dài, trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai, kinh tế riêng biệt. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, sống chung không có hạnh phúc, đề nghị Tòa án giải quyết cho cho anh được ly hôn với chị Y.

- Về con chung: Anh chị có hai con chung là Đào Nguyễn Anh T1, sinh ngày 13/8/201X và Đào Nguyễn Thanh T2 sinh ngày 25/3/201Y. Ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con Đào Nguyễn Anh T1 và đề nghị Tòa án giao con Đào Nguyễn Thanh T2 cho chị Y trực tiếp nuôi đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Đào Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa. Trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn là anh Đào Văn Đ cũng như tống đạt các văn bản của Tòa án: Thông báo thụ lý vụ án; giấy mời và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Đ nhưng tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải anh Đ đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên toà, chị Nguyễn Thị Y giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đào Văn Đ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét mâu thuẫn của chị Nguyễn Thị Y và anh Đào Văn Đ đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử: Về quan hệ hôn nhân cho chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Đào Văn Đ. Về việc nuôi con: Giao con chung Đào Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 25/3/201Y cho chị Y trực tiếp nuôi; Giao con Đào Nguyễn Anh T1, sinh ngày 13/8/201X cho anh Đ trực tiếp nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Về việc chia tài sản: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị Y phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng dân sự:

Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Đào Văn Đ cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, Tòa án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử 331/2023/QĐXXST-HNGĐ và đã tống đạt hợp lệ quyết định trên cho anh Đ nhưng tại phiên toà ngày 20 tháng 6 năm 2023 anh Đ vắng mặt lần thứ nhất, không có lý do. Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên toà số 413/2023/QĐST-HNGĐ trong đó ấn định phiên tòa được mở lại vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 06 tháng 7 năm 2023 Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa cho anh Đ. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Đ tiếp tục vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

+ Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị Y và anh Đào Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường M, quận N, thành phố Hải Phòng ngày 28/4/2010. Vì vậy, hôn nhân giữa chị Y và anh Đ là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống anh chị hòa thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng xảy ra xô sát cãi nhau. Đến nay, anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau về mọi mặt. Hai bên đều xác định tình cảm vợ chồng đã hết, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không còn hạnh phúc.

Qua xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn chính là do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát cãi nhau. Đến nay, anh chị đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai, kinh tế riêng biệt. Xét mâu thuẫn giữa chị Y và anh Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y đối với anh Đ.

+ Về việc nuôi con:

Chị Nguyễn Thị Y và anh Đào Văn Đ có hai con chung là Đào Nguyễn Anh T1, sinh ngày 13/8/201X và Đào Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 25/3/201Y. Anh chị thỏa thuận giao con chung Đào Nguyễn Thanh T2 cho chị Y trực tiếp nuôi; giao con Đào Nguyễn Anh T1 cho anh Đ trực tiếp nuôi. Xét thỏa thuận trên là tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật nên cần áp dụng các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận sự thỏa thuận về việc nuôi con của chị Y và anh Đ. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

+ Về việc chia tài sản:

Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Y phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Đào Văn Đ

- Về việc nuôi con: Giao con chung Đào Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 25/3/201Y cho chị Nguyễn Thị Y trực tiếp nuôi; Giao con chung Đào Nguyễn Anh T1, sinh ngày 13/8/201X cho anh Đào Văn Đ trực tiếp nuôi đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về việc chia tài sản: Chị Nguyễn Thị Y và anh Đào Văn Đ không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0006848 ngày 24/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Y đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Nguyễn Thị Y được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Đào Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ