vanban.org

Bản án 29/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho anh Lê Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị N.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Phương T1, sinh ngày 26/5/2019 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị N. Anh Lê Văn T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho anh Lê Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THÀNH
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 4- 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà; bà Bùi Thị Bích Thủy

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hiên – Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 253/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2022 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2023/QĐST- HNGĐ ngày 29/03/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1997

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, Thanh Hóa.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1997

Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, Thanh Hóa.

Tại phiên toà vắng mặt anh T và chị N (Anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị N vắng mặt lần thứ hai không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 05/9/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Lê Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị N kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 28/02/2019 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ, chồng không hợp, bất đồng nhiều quan điểm sống do đó vợ, chồng thường xuyên cãi nhau. Anh và chị N đã sống ly thân từ tháng 7/2020 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Đến nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên anh yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị N.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Phương T1, sinh ngày 26/5/2019. Từ khi vợ, chồng ly thân cháu T1 ở với chị N. Khi ly hôn anh T có nguyện vọng giao cháu T1 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N.

Về tài sản: Anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập chị Nguyễn Thị N để nộp bản tự khai và thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị N đều vắng mặt không có lí do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử cho anh Lê Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị N. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Phương T1, sinh ngày 26/5/2019 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N. Về án phí: Anh Lê Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Anh Lê Văn T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn đối với chị Nguyễn Thị N. Chị N cư trú tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nên xác định đây là vụ án ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng chị N vắng mặt không có lí do, nên tòa án đã tiến hành mở phiên họp vắng mặt chị N và thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho chị N theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS. Chị N đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng chị N đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.

Chị N cũng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Anh Lê Văn T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS, tòa án xét xử vắng mặt anh T và chị N.

Về hôn nhân: Anh Lê Văn T và chị Nguyễn Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 28/02/2019 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ, chồng thường xuyên cãi nhau. Anh T và chị N đã sống ly thân từ tháng 7/2020 đến nay. Điều đó chứng tỏ anh T và chị N đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho anh T được ly hôn với chị N.

Về con chung: Anh T và chị N có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Phương T1, sinh ngày 26/5/2019. Từ năm 2020 anh T và chị N sống ly thân, cháu T1 ở với chị N. Xét nguyện vọng của anh T giao cháu T1 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N. Quá trình giải quyết vụ án chị N không có ý kiến về nội dung này. Do đó nguyện vọng của anh T là chính đáng nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho con. Nên chấp nhận yêu cầu của anh T giao cháu Nguyễn Thị Phương T1 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N là phù hợp.

Về tài sản: Anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

1. Về hôn nhân: Xử cho anh Lê Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị N.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Phương T1, sinh ngày 26/5/2019 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị N.

Anh Lê Văn T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Lê Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền anh đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, theo biên lai số AA/2021/0007865 ngày 09/11/2022. Anh Lê Văn T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt anh Lê Văn T và chị Nguyễn Thị N. Anh T, chị N có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ