vanban.org

Bản án 29/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Diệp Trần Ngọc T và ông Võ Văn V."
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM NÔNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26-6-2023
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trần Minh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Sĩ;

2. Bà Đặng Thị Nguyên Hồng.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đục, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Thông – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 17/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Diệp Trần Ngọc T, sinh năm: 1995. (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Tạm trú: ấp N, xã N, thành phố T, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Võ Văn V, sinh năm: 1993. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp S, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

3. Người làm chứng: Võ Văn C, sinh năm: 1960. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp S, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/10/2022, bản tự khai ngày 07/3/2023, nguyên đơn chị Diệp Trần Ngọc T trình bày:

Về hôn nhân: Chị T và anh Võ Văn V tự tìm hiểu và kết hôn năm 2020, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (theo giấy chứng nhận kết hôn số: 35 ngày 23/10/2020), thời gian đầu sống rất hạnh phúc. Từ tháng 4/2021 vợ chồng thì phát sinh mâu thuẫn thường xuyên xảy ra cãi nhau do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh V có đánh chị T, đời sống hôn nhân không đạt được. Chị T và anh V đã ly thân từ tháng 8/2021 cho đến nay. Trong thời gian ly thân chị T và anh V có hàn gắn lại với nhau nhưng không thành. Nay chị T yêu cầu tòa án giải quyết được ly hôn với anh Võ Văn V.

Về nuôi con: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản: Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Võ Văn V vắng mặt: Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án số 59/2023/TB-TLVA ngày 07/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông và các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và Thông báo về việc yêu cầu đương sự có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn theo quy định nhưng anh V không đến Tòa án trình bày và cũng không có văn bản ý kiến gửi Tòa án và cũng không có mặt tại các lần mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình thụ lý và giải quyết của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ theo trình tự thủ tục quy định pháp luật. Nguyên đơn chị Diệp Trần Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn anh V, không có mặt để tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị đơn anh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, người làm chứng ông Võ Văn C có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh V và ông C là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2, Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Diệp Trần Ngọc T đối với anh Võ Văn V.

Về nuôi con: Không có nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn khẳng định đã xuất trình đầy đủ các chứng cứ cho Tòa án xem xét và không yêu cầu gì mới hay cung cấp chứng cứ gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng:

Chị Diệp Trần Ngọc T yêu cầu xin ly hôn với anh Võ Văn V nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp về việc “Ly hôn”. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn anh Võ Văn V hiện cư trú tại địa chỉ ấp S, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Diệp Trần Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Võ Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đúng theo quy định, nhưng vẫn vắng mặt lần hai không có lý do, người làm chứng ông Võ Văn C có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh V và ông C là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2, Điều 227, khoản 1 và 3 Điều 228 và Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Diệp Trần Ngọc T với anh Võ Văn V là hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định, nhưng trong quá trình chung sống vợ chồng anh, chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cự cãi dẫn đến anh V có đánh chị T, từ đó chị T và anh V đã ly thân với nhau từ tháng 8/2021 cho đến nay, từ khi ly thân đến nay anh, chị có gặp nhau để tìm ra phương cách hàn gắn lại với nhau nhưng không thành dẫn đến chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để động viên cho anh, chị hàn gắn lại với nhau nhưng anh V không có mặt theo thông báo của Tòa án và cũng không có văn bản ý kiến gửi Tòa án xem xét, chứng tỏ anh V không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T. Mặt khác, tại biên bản lấy lời khai ông C ngày 10/3/2023 cũng xác định trong đời sống hôn nhân anh V và chị T có cự cãi, anh V có đánh chị T. Xét thấy, đời sống chung của anh, chị không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh V là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con: Trong thời gian chung sống chị T và anh V không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về chia tài sản: Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết và vợ chồng cũng không thiếu nợ ai khác. Đối với anh V không có ý kiến cung cấp trong quá trình Tòa án giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này giữa chị T và anh V có phát sinh tranh chấp về chia tài sản thì giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Nguyên đơn chị Diệp Trần Ngọc T phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, phù hợp với các quy định của pháp luật, nghĩ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2, Điều 227, khoản 1 và 3 Điều 228, Điều 229 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 9 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Diệp Trần Ngọc T đối với anh Võ Văn V (theo giấy chứng nhận kết hôn số: 35, ngày 23 tháng 10 năm 2020, của Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp).

2. Về án phí sơ thẩm:

2.1. Chị Diệp Trần Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0012784 ngày 07 tháng 3 năm 2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Đồng Tháp, chị Diệp Trần Ngọc T đã nộp đủ.

2.2. Anh Võ Văn V không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, người yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ