vanban.org

Bản án 29/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa Bà Võ Thị H1 và Ông Lê Hữu S"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST
Ngày 26.5.2023.
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Hồng Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Chánh Ngôn.

2. Ông Thông Minh Tấn.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Hiếu – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện H – tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên toà: Bà Phạm Viết Diệu Trâm – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 427/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14a/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị H1, sinh năm: 1993. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn X, xã Y, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

- Bị đơn: Ông Lê Hữu S, sinh năm: 1991. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Z, xã W, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn – Bà Võ Thị H1 trình bày:

Bà Võ Thị H1 và Lê Hữu S sống chung với nhau năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND xã W, huyện H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 05.02.2021.

Quá trình chung sống, bà Võ Thị H1 và Lê Hữu S hạnh phúc một thời gian đến tháng 3/2022 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống chung vợ chồng. Ông Lê Hữu S sống không có trách nhiệm với vợ con vì vậy mà vợ chồng thường xuyên cãi vả to tiếng với nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt vì không thể sống chung nên bà H1 về nhà cha mẹ ruột ở Ninh Thuận để sinh sống, hai người đã không còn sống chung từ tháng 3/2022 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn nữa nên bà Võ Thị H1 yêu cầu được ly hôn với ông Lê Hữu S.

Về con chung: Bà Võ Thị H1 và ông Lê Hữu S có với nhau 01 con chung: Lê Võ Vàng A, sinh năm 2022. Khi ly hôn, bà H1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông S phải cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, bà Võ Thị H1 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.

- Bị đơn – Ông Lê Hữu S trình bày:

Ông và bà Võ Thị H1 sống chung với nhau năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Thuận, huyện H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 05.02.2021.

Ông Lê Hữu S thừa nhận quá trình chung sống ông S và bà H1 hạnh phúc một thời gian đến tháng 5/2022 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về nhiều vấn dề trong cuộc sống chung vợ chồng nên xảy ra cải vã, ông S bức xúc nói lớn tiềng vài câu thì bà H1 kiếm chuyện bỏ đi đâu ông không rõ và làm đơn yêu cầu ly hôn, hai người đã không còn sống chung từ tháng 5/2022 đến nay. Đối với yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị H1, ông S không đồng ý ly hôn vì ông muốn hàn gắn vợ chồng.

Về con chung: Ông và bà Võ Thị H1 có với nhau 01 con chung: Lê Võ Vàng A, sinh năm 2022. Trường hợp Hội đồng xét xử giải quyết ly hôn, về con chung ông Lê Hữu S đồng ý giao cho bà Võ Thị H1 được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa hôm nay, ông S vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không tuân thủ đúng và đầy đủ theo quy định tại Điều 70; Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Qua lời khai của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy: Bà Võ Thị H1 yêu cầu ly hôn, ông Lê Hữu S không đồng ý ly hôn. Xét tình trạng hôn nhân của bà H1 và ông S thấy rằng mâu thuẫn giữa ông bà không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị H1. Về con chung: Bà Võ Thị H1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung: Lê Võ Vàng A, sinh năm 2022. Xem xét khả năng điều kiện nuôi con của bà H1, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận giao cho bà Võ Thị H1 được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung: Lê Võ Vàng A. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật; Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đơn khởi kiện của bà Võ Thị H1 được gửi trực tiếp đến Tòa án, có hình thức và nội dung theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Bà Võ Thị H1 yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với ông Lê Hữu S. Người bị kiện là ông Lê Hữu S có địa chỉ tại huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện H đã thụ lý và đưa ra giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về việc xét xử vắng mặt: Ông Lê Hữu S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Hữu S là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị H1, Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa ông S và bà H1 đã có thời gian chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa ông bà nảy sinh theo như bà H1 trình bày là do bất đồng quan điểm, ông S sống không có trách nhiệm với vợ con nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt và bà H1 bỏ nhà cha mẹ ruột ở Ninh Thuận để sinh sống, hai người đã không còn sống chung từ tháng 3/2022 đến nay. Quá trình giải quyết, ông Lê Hữu S không đến Tòa tham gia phiên hòa giải.

Xem xét tình trạng hôn nhân giữa bà Võ Thị H1 và ông Lê Hữu S, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mâu thuẫn giữa bà H1 và ông S đã xảy ra mặc dù ông bà đã tìm nhiều cách hòa giải hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả và thực tế hiện nay, ông bà đã không còn tin tưởng, tôn trọng nhau. Quá trình giải quyết, ông S vắng mặt không đến Tòa trình bày ý kiến tại phiên hòa giải. Tại phiên tòa ông S vẫn vắng mặt, bà H1 vẫn kiên quyết ly hôn, chứng tỏ ông bà không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc, mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân giữa ông bà đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị H1 là phù hợp, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Quá trình giải quyết, bà Võ Thị H1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung: Lê Võ Vàng A, sinh năm 2022. Xét yêu cầu nuôi con của bà Võ Thị H1, Hội đồng xét xử xét thấy trong thời gian ông bà không còn sống chung với nhau, bà H1 là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà vẫn đảm bảo nuôi dạy con tốt. Để đảm bảo quyền lợi cho con về mọi mặt nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cho bà Võ Thị H1 trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung: Lê Võ Vàng A, sinh năm 2022 là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vấn đề cấp dưỡng, bà Võ Thị H1 không yêu cầu ông Lê Hữu S phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Không có.

[6] Nợ chung: Không có.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bà Võ Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 269, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị H1.

Bà Võ Thị H1 được ly hôn với ông Lê Hữu S.

2. Về con chung: Giao cho bà Võ Thị H1 trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung: Lê Võ Vàng A, sinh năm 2022.

Ông Lê Hữu S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Bà Võ Thị H1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Võ Thị H1 đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai số 0006590 ngày 04.10.2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Thuận. Bà Võ Thị H1 đã nộp đủ tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/5/2023). Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ tại nơi cư trú.

Cỡ chữ